|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2024/DS – ST Ngày 24/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chi
Hội thẩm nhân dân: Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ và ông Lê Tuấn Kiệt.
Thư ký phiên toà: Ông Trương Minh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 198/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2024/QĐXXST-DS, ngày 16 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 162/2024/QĐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N2
Địa chỉ trụ sở chính: số A, đường T, phường L, quận H, Thành Phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Quang D – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Đậu Tuấn C - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần N2, chi nhánh B. Ông Đậu Tuấn C ủy quyền cho: Ông Võ Thanh D1 - chức vụ: Chuyên viên, Ngân hàng TMCP N2, chi nhánh B. (văn bản ủy quyền số 1080B/UQ-BLI.HCNS ngày 27/12/2023).
-
- Bị đơn: Ông Trương Hoài N, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Số A, đường V, Khóm A, Phường A, TP B, tỉnh Bạc Liêu.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Kim O, sinh năm 1979
HKTT: Khóm A, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở hiện tại số B, Nguyễn Văn L, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Các đương sự vắng mặt)
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP N2, đại diện theo ủy quyền ông Võ Thanh D1 trình bày: Giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N2, chi nhánh B (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và ông Trương Hoài N phát sinh các giao dịch tín dụng gồm: Ngày 08/6/2023 Ngân hàng cho ông N vay số tiền 2.200.000.000 đồng, mục đích phục vụ kinh doanh mua bán lúa; hai bên ký Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 37/HĐHM.DH.23, thỏa thuận thời hạn vay 12 tháng, lãi trong hạn 8,5%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Ngân hàng đã giải ngân cho ông N ngày 13/6/2023. Ngày 25/01/2021 Ngân hàng cho ông N vay số tiền 200.000.000 đồng, theo hợp đồng thẻ tín dụng số VS0890001128 và đã phát sinh dư nợ trên thẻ. Để đảm bảo khoản vay này các bên đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 349/VCB.BLI.P3.21 ngày 07/12/2021 thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 98,9m² thửa 857, tờ bản đồ số 14-2 thuộc Khóm A, Phường A, thành phố B.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trương Hoài N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên các khoản vay đã chuyển sang quá hạn từ ngày 14/12/2023. Nay Ngân hàng yêu cầu ông N thanh toán cho Ngân hàng TMCP N2 số tiền nợ tính đến ngày 24/9/2024 là 2.653.836.381 đồng (gồm tiền gốc là 2.372.361.119 đồng; lãi trong hạn là 194.076.310 đồng và lãi quá hạn là 87.398.952 đồng). Kể từ ngày 25/9/2024 trở đi, ông Trương Hoài N còn phải tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông N không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký để thu hồi toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng.
Bị đơn ông Trương Hoài N được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng các văn bản tố tụng trong vụ án nhưng đã không đến Tòa án theo triệu tập, không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim O trình bày: Bà O và chồng là ông Nguyễn Bá P có tài sản chung là phần đất và căn nhà trên đất tại thửa số 857, tờ bản đồ số 14-2, diện tích 98,9m2 tại đường N, Khóm A, Phường A, Thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Ông P có giao dịch làm ăn với ông Trương Hoài N thì bà O không biết. Sau khi ông P mất bà được ông N thông báo việc ông P đã bán nhà và đất cho ông N, giấy tờ đã được làm xong, nên bà cũng không tranh chấp gì nhưng hiện tại mà vẫn đang quản lý nhà đất nêu trên. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N2 đòi tiền nợ ông N cũng như việc ông N thế chấp tài sản để vay vốn thì bà không ý kiến. Trường hợp ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp thì bà O cũng đồng ý giao lại nhà đất cho Ngân hàng và xin thời gian để tìm nơi ở khác. Bà O không có yêu cầu nào thêm.
Tại bản tự khai, Biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ đại diện Ngân hàng TMCP N2 vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm cho rằng:
- Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và xin vắng theo quy định; bị đơn ông Trương Hoài N đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N2. Buộc ông Trương Hoài N trả cho Ngân hàng TMCP N2 tổng số tiền tính đến ngày 24/9/2024 là 2.653.836.381 đồng (gồm tiền gốc là 2.372.361.119 đồng; lãi trong hạn là 194.076.310 đồng và lãi quá hạn là 87.398.952 đồng) và tiền lãi thực tế phát sinh từ ngày 25/9/2024 theo mức lãi suất của các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả hết nợ.
- Trường hợp ông Trương Hoài N không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP N2 được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá các tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Buộc bà O giao tài sản khi có yêu cầu thi hành cho nguyên đơn.
- Về án phí dân sự có giá ngạch và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: ông Trương Hoài N phải nộp theo quy định pháp luật.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu về việc tuân theo pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc và lãi theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết nên đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn ông Trương Hoài N sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng trực tiếp cho bị đơn do bị đơn không còn cư trú tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp. Tại biên bản xác minh đại diện địa phương Khóm A, Phường A, thành phố B và phiếu xác nhận thông tin cư trú của Công an P1, thành phố B đều xác nhận ông Trương Hoài N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số A, đường V, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nhưng hiện nay không còn sinh sống tại địa chỉ trên, ông N đi đâu, làm gì không rõ; Như vậy người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trong trường hợp này bị đơn được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành niêm yết theo quy định tại khoản 5 Điều 177, Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và xét xử vụ án theo quy định.
[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Đại diện nguyên đơn là ông Võ Thanh D1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Kim O có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trương Hoài N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N2.
[3.1] Xét các hợp đồng tín dụng đã ký kết: Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 37/HĐHM.DH.23 ngày 08/6/2023, vay 2.200.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm triệu đồng), mục đích phục vụ kinh doanh mua bán lúa, thỏa thuận thời hạn vay 12 tháng, lãi được xác định tại thời điểm giải ngân vốn cho vay theo thông báo lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từ thời ký và được ghi trên từng giấy nhận nợ. Theo Giấy nhận nợ ngày 13/6/2023, thỏa thuận lãi suất vay trong hạn 8,5%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, ngày đến hạn là 13/12/2023. Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng ngày 19/5/2021, hạn mức thẻ 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy, các hợp đồng tín dụng nêu trên được ông N tự nguyện ký kết và đã được giải ngân đủ số tiền vay. Hợp đồng tín dụng cũng như Đề nghị phát hành thẻ tín dụng có hình thức, nội dung thỏa thuận phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng. Các bên thoả thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn được nêu trong các hợp đồng tín dụng nêu trên phù hợp với quy định tại Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng có quyền khởi kiện yêu cầu ông N trả nợ vay quá hạn là đúng theo thỏa thuận các bên tại điểm 10.3 Điều 10 của hợp đồng tín dụng đã ký kết và tại Đề phát hành thẻ. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Trương Hoài N trả nợ vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết với tổng số nợ tính đến ngày 24/9/2024 là 2.653.836.381 đồng (gồm tiền gốc là 2.372.361.119 đồng; lãi trong hạn là 194.076.310 đồng và lãi quá hạn là 87.398.952 đồng) là có căn cứ chấp nhận. Ông Trương Hoài N còn phải tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.
[3.2] Xét yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của Ngân hàng: Để đảm bảo các khoản vay, các bên đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 349/VCB.BLI.P3.21 ngày 07/12/2021 thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 98,9m² thửa 857, tờ bản đồ số 14-2 thuộc Khóm A, Phường A, thành phố B được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT266400 ngày 28/11/2019, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Trương Hoài N ngày 11/02/2020. Xét thấy Hợp đồng thế chấp tài sản đã được công chứng, chứng thực, đối với tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cũng đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B đăng ký thế chấp đúng quy định, nên hợp đồng thế chấp đã ký có hiệu lực pháp luật. Nay ông Trương Hoài N vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng TMCP N2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay là hoàn toàn phù hợp, đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[3.3] Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/7/2024 thể hiện hiện trạng tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 98,9m², tại thửa đất số 857, tờ bản đồ 14-2, loại đất ở đô thị, trên đất có một căn nhà loại II, kết cấu: Khung cột bê tông cốt thép; tường xây gạch bao quanh; đổ sàn bê tông cốt thép tầng lững, tầng lầu 1 và tầng lầu 2; nền gạch men; mái lợp tole (có đóng la phông trần thạch cao), mặt tiền trước dán gạch ceramic; đổ bê tông cốt thép ban công. Mức độ sử dụng tiện nghi đầy đủ. Số tầng 05 tầng (01 trệt, 01 tầng lửng, 03 tầng lầu). Mái che phía trước khung cột sắt tiền chế, mái lợp tole thiếc, phía dưới nền lót gạch vỉa hè công cộng. Hiện phần đất, căn nhà và tài sản khác do bà Lê Thị Kim O đang quản lý, sử dụng. Bà O xác định bà biết việc ông N thế chấp tài sản để vay tiền tại Ngân hàng và không tranh chấp gì. Trong vụ án này bà không yêu cầu Toà án giải quyết yêu cầu nào và đồng ý giao tài sản khi có yêu cầu phát mãi của Ngân hàng.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên ông Trương Hoài N phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp.
Ngân hàng TMCP N2 đã tạm ứng chi xem xét thẩm định tại chỗ xong 750.000 đồng. Ông ông Trương Hoài N phải có trách nhiệm nộp 750.000 đồng để hoàn trả cho Ngân hàng.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng thương mại cổ phần N2 được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ông Trương Hoài N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 85.076.728 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[6] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 292, 295, 298, 299, 317; khoản 1 Điều 318, các Điều 319, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự.
- Điều 100, 103, điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các Tổ chức tín dụng.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1./ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N2.
2/. Buộc ông Trương Hoài N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP N2 số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/9/2024) là 2.653.836.381 đồng (Hai tỷ, sáu trăm năm mươi ba triệu, tám trăm ba mươi sáu nghìn, ba trăm tám mươi mốt đồng). Bao gồm: Vốn gốc là 2.372.361.119 đồng; lãi trong hạn là 194.076.310 đồng và lãi quá hạn là 87.398.952 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/9/2024), ông Trương Hoài N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ với Ngân hàng TMCP N2.
3/. Trường hợp ông Trương Hoài N không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP N2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay theo quy định của pháp luật là quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT266400 ngày 28/11/2019, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Trương Hoài N ngày 11/02/2020, diện tích 98,9m², tại thửa đất số 857, tờ bản đồ 14-2, loại đất ở đô thị, tại Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và tài sản trên đất.
4/. Buộc bà Lê Thị Kim O là người đang quản lý tài sản thế chấp nêu trên có nghĩa vụ giao lại tài sản cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để thi hành cho nguyên đơn khi có yêu cầu.
5/. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ là 750.000 đồng. Ông Trương Hoài N phải chịu toàn bộ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 đã dự nộp và chi số tiền 750.000 đồng nên ông Trương Hoài N phải hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm chục nghìn đồng).
6/. Về án phí: Ông Trương Hoài N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 85.076.728 đồng (T mươi lăm triệu không trăm bảy mươi sáu ngàn bảy trăm hai mươi tám đồng) và nộp tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Ngân hàng thương mại cổ phần N2 không phải chịu án phí, Ngân hàng đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 38.737.000 đồng (Ba mươi tám triệu, bảy trăm ba mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002647 ngày 09/05/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, nay được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.
7/. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án sơ thẩm xử công khai, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Phạm Thị Chi |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bạc Liêu;
- - VKSND TP Bạc Liêu;
- - CC THA.DS TP Bạc Liêu;
- - Các đương sự;
- - Lưu.
Bản án số 132/2024/DS – ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 132/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
