Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2024/HS-ST

Ngày: 24-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương Anh, ông Đặng Thanh Tấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 19 và 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu T

(tên gọi khác: Tý B), sinh ngày 21 tháng 4 năm 1971 tại Trà Vinh

Hộ khẩu thường trú: khu phố E, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị P (đã chết); có vợ tên Võ Thị Thu H và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003 và nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 07/01/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Bản án số 02/2011/HS-ST, bị cáo kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử y án sơ thẩm tại Bản án số 23/2011/HS-PT ngày 28/02/2011.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  • + Ông Nguyễn Minh P1, sinh năm 2004 (có mặt tại phiên tòa ngày 24/6/2024)
  • Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • + Bà Nguyễn Thanh V, sinh năm 2005 (có mặt tại phiên tòa ngày 24/6/2024)
  • Nơi cư trú: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 19/01/2024, Nguyễn Hữu T liên hệ với 01 đối tượng tên Dâu Tây (chưa rõ nhân thân) hỏi mua 1.900.000 đồng ma túy về để sử dụng thì Dâu T1 đồng ý và hẹn giao ma túy tại nhà của T tại thôn X, xã P, thành phố P. Khoảng 15 phút sau, một đối tượng (chưa rõ nhân thân) đến nhà đưa cho T 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo bên trong chứa tinh thể màu trắng, T đưa người này 1.900.000 đồng. T bỏ gói ma túy vào trong 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh và bỏ bao thuốc lá vào 01 hộp giấy màu đen rồi cất giấu ở ghế salon trong Nhà T. Đến khoảng 16 giờ 20 phút ngày 24/01/2024, T tiếp tục liên lạc với Dâu T1 hỏi mua 3.800.000 đồng ma túy đá và hẹn giao tại nhà của T thì Dâu T1 đồng ý. Khoảng 20 phút sau, có 01 đối tượng đến nhà gặp T rồi đưa cho T 01 gói giấy màu trắng, T mở ra thì thấy bên trong gói giấy màu trắng có chứa 02 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, bên trong có chứa ma túy đá, T đưa cho đối tượng này 3.800.000 đồng. Nhận được ma túy, T cất giấu 02 gói ma túy trên nóc tủ quần áo trong nhà của T rồi đi công việc. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T về nhà thì thấy Nguyễn Minh P1 (là con rể của T) và Nguyễn Thanh V (là con ruột của T) đang ngồi xem tivi. Cùng lúc này, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố P phối hợp với Công an xã P đến kiểm tra hành chính nhà của T. Qua kiểm tra, lực lượng Công an thu giữ trên ghế salon gần nơi T ngồi 01 hộp giấy màu đen, bên trong có chứa 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh, bên trong vỏ bao thuốc lá có chứa 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 cân tiểu ly nhỏ, T khai nhận đây là ma túy đá và cân tiểu ly của T. Lực lượng Công an tiếp tục thu giữ dưới ghế salon 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, T khai đây là bộ dụng cụ T làm để sử dụng ma túy đá. Tiếp tục kiểm tra, phát hiện thu giữ trên nóc tủ quần áo trong nhà T 02 gói nylon không màu, kích thước khác nhau, một đầu đều có khóa nhựa kéo, bên trong các gói nylon này đều chứa tinh thể màu trắng, T khai đó là ma túy đá T mua để tàng trữ sử dụng dần. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ trong túi quần T 01 điện thoại hiệu Samsung, màu đen. Sau đó, lực lượng Công an đưa T cùng tang vật về trụ sở làm việc.

Vật chứng của vụ án:

  • - Thu giữ trên ghế salon trong nhà T:
    • + 01 hộp giấy màu đen kích thước (16 x 13 x 5,5)cm, bên trong có chứa một vỏ bao thuốc lá màu xanh, bên trong vỏ bao thuốc lá có chứa: 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước (04 x 7,5)cm, chứa tinh thể màu trắng. Được niêm phong và ký hiệu M1 khi giám định.
    • + 01 cân tiểu ly màu xám.
  • - Thu giữ trên nóc tủ quần áo, gồm: 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước (04 x 7,5)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước (07 x 12)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Được niêm phong và ký hiệu lần lượt là M2, M3 khi giám định.
  • - Thu giữ dưới ghế salon 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: 01 chai nhựa không màu, gắn nắp màu vàng, trên đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nước giải khát, 01 lỗ gắn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu.
  • - Thu giữ trong túi quần của T: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, nắp gập, số IMEI 353185/44/1517/35/8, bên trong có gắn sim số 0907559977.

Tại Bản kết luận giám định số 152/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K – Công an tỉnh B kết luận:

  • “Mẫu M1 có khối lượng 1,4366 gam là Methamphetamine.
  • Mẫu M1 có khối lượng 2,6715 gam là Methamphetamine.
  • Mẫu M1 có khối lượng 5,2061 gam là Methamphetamine”.

Xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu S màu đen, nắp gập, số IMEI 353185/44/1517/35/8, bên trong có gắn sim số 0907559977; 01 cân tiểu ly màu xám; 01 chai nhựa không màu, gắn nắp màu vàng, trên đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nước giải khát, 01 lỗ gắn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu; 01 hộp giấy màu đen kích thước (16 x 13 x 5,5)cm, bên trong có chứa một vỏ bao thuốc lá màu xanh, bên trong vỏ bao thuốc lá có chứa: 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước (04 x 7,5)cm; 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước (04 x 7,5)cm; 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước (07 x 12)cm đều đã cắt lấy mẫu và 1,3554 gam mẫu M1, 2,5913 gam mẫu M2, 1239 gam mẫu M3 còn lại sau giám định lần lược được niêm phong trong các phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 152/1, 152/2, 152/3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số 65/CT-VKSPT-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • - Áp dụng khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng: 01 cân tiểu ly màu xám; 01 chai nhựa không màu, gắn nắp màu vàng, trên đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nước giải khát, 01 lỗ gắn ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu; 01 hộp giấy màu đen kích thước (16 x 13 x 5,5)cm, bên trong có chứa một vỏ bao thuốc lá màu xanh, bên trong vỏ bao thuốc lá có chứa: 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước (04 x 7,5)cm; 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước (04 x 7,5)cm; 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước (07 x 12)cm đều đã cắt lấy mẫu và 1,3554 gam mẫu M1 và 2,5913 gam mẫu M2 và 5,1239 gam mẫu M3 còn lại sau giám định lần lược được niêm phong trong các phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 152/1, 152/2, 152/3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; sim số 0907559977.
  • - Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, nắp gập, số IMEI 353185/44/1517/35/8.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 19 giờ ngày 24/01/2024, tại nhà của Nguyễn Hữu T ở thôn X, xã P, thành phố P, T có hành vi tàng trữ trái phép 9,3142 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố P phối hợp với Công an xã P bắt quả tang.

Nguyễn Hữu T có hành vi tàng trữ trái phép 9,3142 gam Methamphetamine để sử dụng, là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Bị cáo Nguyễn Hữu T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hữu T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội, nhưng chưa hoàn toàn thành khẩn khai báo về phương tiện sử dụng để liên lạc mua ma túy, tuy nhiên Hội đồng xét xử vẫn cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Hiện nay, tội phạm về ma túy đang là vấn nạn nhức nhối của xã hội, không những hủy hoại sức khỏe, làm ảnh hưởng đến giống nòi, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, trước đây đã bị xử phạt tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, sau khi chấp hành án xong không rèn luyện, tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết về mức áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là hợp lý.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong số 152/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và có dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, 01 (một) phong bì niêm phong số 152/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và có dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, 01 (một) phong bì niêm phong số 152/3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và có dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B là vật Nhà nước cấm lưu hành, cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) hộp giấy màu đen, kích thước (dài x rộng x cao) khoảng (16 x 13 x 5,5)cm, bên trong có chứa 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu xanh; 01 (một) chai nhựa không màu, gắn nắp màu vàng, trên đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nước giải khát, 01 lỗ gắn 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu; 01 (một) cân tiểu ly màu xám có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung vỏ màu đen, nắp gập, mặt lưng có số IMEI 353185/44/1517/35/8, bên trong có gắn sim số 0907559977: Tại phiên tòa ngày 19/6/2024, bị cáo khai đây là điện thoại do bị cáo mượn của con gái bị cáo (Nguyễn Thanh V). Tại Biên bản lấy lời khai ngày 20/6/2024, bà Nguyễn Thanh V khẳng định điện thoại Samsung trên là của bị cáo, không phải của bà V; tại phiên tòa ngày 24/6/2024, bà V thay đổi lời khai rằng điện thoại trên là của bị cáo mua cho bà và bị cáo mượn chưa trả. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa không thống nhất, có lúc bị cáo khai ngày 19/01/2024 bị cáo dùng một điện thoại khác để liên lạc mua ma túy, sau đó điện thoại bị hư hỏng nên có mượn điện thoại Samsung của con gái trước ngày 24/01/2024 mấy ngày, có lúc khai mượn điện thoại cách đó 01 tháng. Tuy tại phiên tòa, bị cáo và người làm chứng thay đổi lời khai, nhưng Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản lấy lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản kiểm tra điện thoại di động), xác định điện thoại di động hiệu Samsung vỏ màu đen, nắp gập, mặt lưng có số IMEI 353185/44/1517/35/8 là của bị cáo, được bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc để mua ma túy, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với sim số 0907559977 cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 152/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và có dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (một) phong bì niêm phong số 152/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và có dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (một) phong bì niêm phong số 152/3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và có dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (một) hộp giấy màu đen, kích thước (dài x rộng x cao) khoảng (16 x 13 x 5,5)cm, bên trong có chứa 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu xanh; 01 (một) chai nhựa không màu, gắn nắp màu vàng, trên đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nước giải khát, 01 lỗ gắn 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu; 01 (một) cân tiểu ly màu xám; sim số 0907559977.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung vỏ màu đen, nắp gập, mặt lưng có số IMEI 353185/44/1517/35/8.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 111 ngày 06 tháng 5 năm 2024).

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/6/2024).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS nhân dân thành phố Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS thành phố Phan Thiết;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lê Thảo Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 132/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Tâm phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Tâm 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger