|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 132/2024/HS-ST
Ngày: 24-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
2. Ông Nguyễn Văn Quản
- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Nụ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 346/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 715/2024/QĐXXST ngày 06/6/2024, đối với các bị cáo:
1. Đỗ Thùy T; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1996, tại: Thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: A22.08 (A.23H) Chung cư T, Khu phố A, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Đỗ Duy H, sinh năm 1969; Con bà: Nguyễn Thị Vân U, sinh năm 1974; anh chị em có 02 người; Chồng: chưa có; Con: Có 03 con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 46/2017 ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam tuyên phạt Đỗ Thùy T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. T đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 30/5/2019.
Bị cáo bị lệnh bắt bị can để tạm giam số 320/LB-CQCSĐT 27/3/2024 của cơ quan cảnh sát Công an quận T (Có mặt tại phiên tòa).
2. Từ Công Minh; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1988, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B H, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: Lớp 06/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Con ông: Từ Sĩ Chảy (chết); Con bà: Chung Hồng V, sinh năm 1955; anh chị em có 02 người bị cáo là con út trong gia đình; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 184/2016/HSST của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Từ Công Minh 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1, Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Buộc bị cáo M nộp sung công quỹ Nhà nước 1.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính. Ngày 21/12/2016 và ngày 01/8/20217, Từ Công Minh đã thi hành xong khoản tiền nêu trên.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2023 (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
-
Công ty TNHH D1
Địa chỉ: H T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Nhật T1 – Chức vụ: Kế toán trưởng (Vắng mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Nguyễn Quang C, sinh năm: 1989
Địa chỉ: F Â, Khu phố A, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng:
-
Ông Nguyễn Hoàng D, sinh năm: 1987
Địa chỉ: B V, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa). -
Ông Nguyễn Nhật T1, sinh năm: 1994
Địa chỉ: Số C C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa). -
Ông Ngô Phú H1, sinh năm: 1968
Địa chỉ: 4 Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 25 phút ngày 31/5/2023, Đỗ Thùy T lên mạng Internet tìm thông tin các công ty bán thiết bị máy tính nhằm chiếm đoạt tài sản. Lúc này, T tìm thấy thông tin Công ty TNHH D1 nên T sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn Thị Tuyệt V1” nhắn tin với anh Nguyễn Hoàng D, là nhân viên của Công ty D1 hỏi mua máy vi tính. Sau đó, T sử dụng tài khoản Zalo số điện thoại 0776.671.xxx là sim khuyến mãi tên “Le Chien” để kết bạn với tài khoản Zalo của Công ty D1 qua số điện thoại 0906.788.xxx tên “Hoàng Gia C1”. T giới thiệu là nhân viên của Công ty TNHH M3 và hỏi mua 13 bộ máy tính văn phòng thì được anh D gửi bảng báo giá 13 bộ máy tính nhãn hiệu Dell với tổng số tiền là 129.250.000 đồng, bao gồm giá tiền máy tính là 117.500.000 đồng và 10% tiền thuế GTGT là 11.750.000 đồng, T đồng ý và T thông báo phương thức thanh toán bằng ủy nhiệm chi thì được Công ty D1 đồng ý.
Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, T đến quán cơm tại tòa nhà A trong Công viên phầm mềm Q, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh rồi T gọi điện thoại rủ Từ Công M1 đến ăn cơm. Do đó, M1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Zip, biển số 29B1 - 487.78 đến gặp T. Tại đây, T lên mạng Internet tìm nơi làm ủy nhiệm chi giả với thông tin Công ty TNHH M3, số tài khoản 137589902 chuyển Công ty TNHH D1, số tài khoản 0331000499902 với số tiền 129.250.000 đồng vào ngày 31/5/2023 thông qua Ngân hàng A. Sau đó, bên làm ủy nhiệm chi (chưa xác định) gửi vào tài khoản Zalo tên “Le Chien” do T là chủ tài khoản hình ảnh giấy ủy nhiệm chi như thông tin T đã đặt làm. Sau đó, T sử dụng ví điện tử M2 chuyển 100.000 đồng tiền làm ủy nhiệm chi giả. Do thấy T sử dụng điện thoại liên tục nên M1 có hỏi T thì được T nói cho biết việc T đang làm giấy ủy nhiệm chi giả để chiếm đoạt tài sản. Đồng thời, T rủ M1 tham gia thực hiện hành vi chiếm đoạt 13 máy vi tính của Công ty D1, T chia cho M1 30% còn T hưởng 70% tổng số tiền bán máy vi tính chiếm đoạt được, M1 đồng ý.
Đến 13 giờ 00 phút, T gọi điện yêu cầu Công ty D1 giao 13 bộ máy vi tính tại tòa nhà A trong Công viên phần mềm Q, phường T, Quận A. Sau đó, T liên hệ với nhân viên giao hàng tên Nguyễn Nhật T1 thông báo phía trước tòa nhà A đang tổ chức sự kiện nên yêu cầu giao máy vi tính tại khu vực cổng sau của tòa nhà. Đến khoảng 14 giờ 30 phút, T1 cùng tài xế xe ô tô chở 13 bộ máy tính đến gặp T tại cổng sau tòa nhà A. Tại đây, T1, T và Minh b các thùng giấy chứa 13 bộ máy vi tính vào trong hành lang của tòa nhà. Sau đó, tài xế điều khiển xe ô tô đi trước còn T1 ở lại và đưa cho T tờ hóa đơn phô tô với số tiền thanh toán là 129.250.000 đồng. Lúc này, T đưa hình ảnh giấy ủy nhiệm chi giả trên điện thoại của T cho T1 xem thì T1 chụp ảnh lại và gửi cho anh Nguyễn Hoàng D, là nhân viên Công ty D1 để kiểm tra. Sau khi anh D kiểm tra ủy nhiệm chi xong thì anh T1 đi về.
Sau đó, T và M1 thuê xe ô tô Grap 07 chỗ (chưa rõ biển số) chở 13 bộ máy vi tính đến khách sạn M4, địa chỉ A đường L, Khu phố A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để cất giấu. T đi cùng xe ô tô trên còn M1 điều khiển xe mô tô biển số 29B1 - 487.78 chạy theo sau. Khi đến khách sạn M4, T và M1 cất giấu 13 bộ máy vi tính tại phòng 301 của khách sạn rồi M1 đi về. Tiếp đó, T lên ứng dụng Google tìm người mua máy vi tính. Sau khi thấy thông tin của anh Nguyễn Quang C có nhu cầu mua máy vi tính nên T sử dụng tài khoản Zalo tên “Le Chien” thương lượng giá cả 12 bộ máy vi tính. Anh C đồng ý mua với giá 39.000.000 đồng/12 bộ máy vi tính nhưng T không đồng ý. Trong lúc này, M1 cũng lên trang mạng G tìm người mua máy vi tính thì tìm thấy thông tin của anh C. Do đó, M1 sử dụng tài khoản Zalo “Kutin” do M1 là chủ tài khoản thương lượng giá cả bán 12 bộ máy vi tính. C đồng ý mua với giá 39.000.000 đồng nên M1 gọi điện thoại thông báo cho T nhưng T không đồng ý. Cả T và M1 không nói cho anh C biết đây là tài sản do T và M1 phạm tội mà có, anh C cũng không biết đây là tài sản do T và M1 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có.
Đến chiều ngày 01/6/2023, T gọi điện thoại cho M1 đến khách sạn M4. Sau đó, T đặt xe Grap ô tô 07 chỗ (chưa rõ biển số) đến khách sạn M4 chở T cùng 13 bộ máy vi tính đến khách sạn C2, địa chỉ 4 đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh còn M1 điều khiển xe mô tô biển số 29B1 - 487.78 đi phía sau. Tại đây, T và M1 cất giấu 12,5 bộ máy vi tính ở khu vực cầu thang của khách sạn còn 01 đầu CPU máy vi tính được T mang lên phòng 507 khách sạn C2. Sau đó, T và M1 tiếp tục chuyển số máy vi tính cất giấu ở khu vực cầu thang của khách sạn đến phòng trọ số 102 nhà số D đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do T thuê để cất giấu.
Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 02/6/2023, T gọi điện thoại cho anh C và đồng ý bán 12 bộ máy vi tính với giá 39.000.000 đồng. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, anh C đến phòng trọ 102 do T thuê trọ để chở 12 bộ máy vi tính về. T xin anh C 03 bàn phím máy tính cùng 01 màn hình máy vi tính thì anh C đồng ý. Sau đó, anh C chuyển 39.000.000 đồng vào tài khoản số 0773671566 tên Võ Thị Kim Y mở tại Ngân hàng S do T sử dụng. Sau khi nhận tiền, T quay lại khách sạn C2. Tại đây, T chuyển vào tài khoản Ngân hàng số [...] được mở tại Ngân hàng M5 do M1 là chủ tài khoản số tiền 3.000.000 đồng.
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/6/2023, anh D chưa nhận được 129.250.000 đồng từ T. Đến 09 giờ ngày 02/6/2023, anh D kiểm tra thì phát hiện số tài khoản 137.589.902 trên tờ ủy nhiệm chi do T gửi là không có thật nên anh D gọi điện, nhắn tin cho T nhưng T không trả lời. Sau đó, Công ty D1 nhận thấy 12 bộ máy vi tính do anh C đăng bán trên trang mạng xã hội là tài sản của Công ty bán cho T. Do đó, anh Nguyễn Nhật T1 đến Công an phường T, Quận A trình báo vụ việc.
Đến khoảng 21 giờ 00 phút ngày 02/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q phát hiện tại phòng 102 nhà số D đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh có 01 màn hình máy vi tính; dây kết nối; 04 bàn phím. Đến ngày 04/6/2023, T đang lẩn trốn tại phòng 313 nhà số B đường Số G, Khu phố E, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện lập hồ sơ xử lý và bàn giao T cùng tang vật đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q giải quyết theo thẩm quyền.
* Tại Kết luận định giá tài sản số 208/KL-HĐĐGTS ngày 07/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A, kết luận: Tổng giá trị của 13 bộ máy vi tính nhãn hiệu Dell có trị giá là 104.250.000 đồng (BL 85 - 88).
* Về trách nhiệm dân sự:
- Đỗ Thùy T đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q số tiền 19.000.000 đồng số tiền T bán 12 bộ máy vi tính cho anh Nguyễn Quang C và T giao nộp thêm 1.000.0000 đồng. Tổng số tiền T giao nộp là 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Anh C đã nhận số tiền nêu trên.
- Từ Công Minh đã tự nguyện bồi thường cho anh C số tiền 10.000.000 đồng.
Tổng số tiền Đỗ Thùy T và Từ Công M1 đã bồi thường cho anh Nguyễn Quang C là 30.000.000 đồng. Anh C đã nhận số tiền nêu trên, không yêu cầu T và M1 tiếp tục bồi thường thêm số tiền 9.000.000 đồng còn lại, đồng thời anh C đã làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can T và bị can M1.
* Kết quả xác minh như sau:
- Công ty TNHH M3 xác nhận không mua 13 bộ máy vi tính từ Công ty TNHH D1 và không làm ủy nhiệm chi cho Công ty D1 và công ty không có nhân viên tên Đỗ Thùy T có nhân thân lai lịch nêu trên.
- Tài khoản số 0773671566 tên Võ Thị Kim Y mở tại Ngân hàng S có nhận 39.000.000 đồng vào ngày 02/6/2023 từ anh Nguyễn Quang C. Qua làm việc, T khai nhận đã nhặt được chứng minh nhân dân mang tên Võ Thị Kim Y, thường trú tại Tổ E, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Sau đó, T sử dụng hình thẻ 2x3 của T để dán vào phần ảnh thật của Y và sử dụng thông tin của Y để làm thủ tục mở tài khoản trực tuyến của Ngân hàng S1. Sau khi mở được tài khoản Ngân hàng, T đã ném bỏ chứng minh nhân dân mang tên Võ Thị Kim Y và thẻ ATM. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, tiến hành xác minh nơi sinh sống của đương sự Võ Thị kim Yến thì đương sự Y có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ nêu trên nhưng hiện nay không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ.
- Tài khoản số [...] được mở tại Ngân hàng M5 do Từ Công Minh là chủ tài khoản có nhận số tiền 3.000.000 đồng từ số tài khoản 0773671566 tên Võ Thị Kim Y mở tại Ngân hàng S do T sử dụng.
- Trên hệ thống của Ngân hàng TMCP Á (A) không tồn tại số tài khoản 137589902 và số tài khoản 0331000499902.
* Vật chứng thu giữ
-
Thu giữ của Đỗ Thùy T:
- + 01 thùng CPU của bộ máy vi tính nhãn hiệu Dell (thu giữ tại phòng 507 khách sạn C2).
- + Tiền Ngân hàng N: 19.000.000 đồng (T giao nộp);
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số imei 1: 869909057683163/78, imei 2: 869909057683171/78.
-
Thu giữ của Từ Công M1:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Zip, biển số 29B1 - 487.78. Số khung RP8M25310EV105255, số máy M253M4004668. Qua xác minh xe mô tô trên do bà Phan Thu V2, cư trú P8 C11 G, quận B, Thành phố Hà Nội là chủ sở hữu. Ngày 05/7/2021, tại Văn phòng C3, địa chỉ B Đường số E, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, bà V2 đã làm Hợp đồng ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T2, cư trú tại C đường L, Tổ G, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền sử dụng, định đoạt đối với xe mô tô nêu trên. Đến khoảng tháng 7/2021, anh T2 bán xe mô tô biển số 29B1 - 487.78 cho Đỗ Thùy T. Việc mua bán xe giữa anh T2 và T không được lập hợp đồng mua bán theo quy định. Vào khoảng tháng 5/2023, T cho Từ Công M1 mượn xe mô tô biển số 29B1 - 487.78 để làm phương tiện đi lại.
- + 01 điện thoại di động hiệu S2 A4, imei 357260751257303.
- + 01 điện thoại di động hiệu S2 A12, imei 354312131667934
-
Thu giữ của Nguyễn Quang C:
- + 12 bộ máy vi tính nhãn hiệu Dell.
-
Anh Ngô Phú H1, là chủ phòng trọ số 102 nhà số D đường C, Phường A, quận T giao nộp:
- + 01 màn hình máy vi tính; 04 bộ bàn phím; 01 chân đế màn hình máy vi tính màu đen, bằng nhựa; 01 đoạn dây kết nối từ màn hình máy vi tính đến CPU và 01 đoạn dây nguồn của màn hình máy vi tính.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả các tài sản thu thu giữ của Nguyễn Quang C và anh Ngô Phú H1 và 01 thùng CPU của bộ máy vi tính nhãn hiệu Dell thu giữ của T cho anh Công ty TNHH D1 do ông Nguyễn Nhật T3 là người đại diện theo ủy quyền.
Tại Bản cáo trạng số: 250/CT-VKS ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Đỗ Thùy T, Từ Công M1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Thùy T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Từ Công M1 từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH D1 đã nhận lại tài sản và anh C đã nhận bồi thường và không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, bản ảnh xác định hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 07 giờ 25 phút ngày 31/5/2023, thông qua mạng xã hội Google Đỗ Thùy T liên hệ Công ty TNHH D1 và giới thiệu là nhân viên Công ty TNHH M3 để mua 13 bộ máy vi tính văn phòng nhãn hiệu Dell với tổng số tiền là 129.250.000 đồng. Sau đó, T lên mạng thuê làm giấy ủy nhiệm chi giả với thông tin Công ty TNHH M3, số tài khoản 137589902 chuyển đến Công ty TNHH D1, số tài khoản 0331000499902 với số tiền 129.250.000 đồng vào ngày 31/5/2023 thông qua Ngân hàng A. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, T gọi điện thoại rủ Từ Công M1 đến quán cơm tại tòa nhà A trong Công viên phầm mềm Q, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, T rủ M1 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt 13 bộ máy vi tính, T chia cho M1 30% số tiền bán máy vi tính thì M1 đồng ý.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, anh Nguyễn Nhật T1 được T cho xem ủy nhiệm chi được T lưu trên điện thoại nên anh Tâm g cho T và M1 nhận 13 bộ máy vi tính hiệu Dell trị giá 104.250.000 đồng tại cổng sau tòa nhà Anna Building.
Sau khi chiếm đoạt được 13 bộ máy vi tính của Công ty D1, T sử dụng tài khoản Zalo “Le Chien” và M1 sử dụng tài khoản Z “Kutin” liên hệ với anh Nguyễn Quang C để bán 12 bộ máy vi tính với giá 39.000.000 đồng. Sau đó, T chuyển vào tài khoản Ngân hàng số [...] được mở tại Ngân hàng M5 do M1 là chủ tài khoản số tiền 3.000.000 đồng.
Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Đỗ Thùy T và Từ Công M1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự;
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo:
Trong vụ án này bị cáo T là người rủ bị cáo M1 thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy bị cáo T phải chịu mức án cao hơn so với bị cáo M1. Bị cáo T và bị cáo M1 có nhân thân xấu đã từng bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Hành vi của các bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, các bị cáo đã bồi thường cho anh C và anh C làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Riêng bị cáo T phạm tội khi đang mang thai nên áp dụng cho bị cáo T tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm n khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối hành vi làm giả giấy ủy nhiệm chi và sửa chữa chứng minh nhân dân của Đỗ Thùy T, do không thu được các tài liệu liên quan để giám định nên không đủ cơ sở để xử lý hình sự T về tội “Sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức” nên ngày 23/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 10 nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ đối với hành vi nêu trên của T là có cơ sở. Ngày 30/10/2023, T đã thi hành xong quyết định xử phạt nêu trên.
Đối với anh Nguyễn Quang C khi mua 12 bộ máy vi tính thì T và M1 không nói và anh C cũng không biết đây là tài sản do T và M1 phạm tội mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý là có căn cứ.
[4] Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự:
- Về xử lý vật chứng:
- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả cho chủ sở hữu D1 01 thùng CPU của bộ máy vi tính nhãn hiệu Dell (thu giữ tại phòng 507 khách sạn C2),12 bộ máy vi tính nhãn hiệu Dell, 01 màn hình máy vi tính; 04 bộ bàn phím; 01 chân đế màn hình máy vi tính màu đen, bằng nhựa; 01 đoạn dây kết nối từ màn hình máy vi tính đến CPU và 01 đoạn dây nguồn của màn hình máy vi tính.
- Giao cho cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng đối với vối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Zip, biển số 29B1 - 487.78. Số khung RP8M25310EV105255, số máy M253M4004668. Sau thời gian 03 tháng kể từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo M1 01 điện thoại di động hiệu S2 A4, imei 357260751257303 bị cáo không dùng vào việc phạm tội.
- Cần tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu S2 A12, imei 354312131667934 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số imei 1: 869909057683163/78, imei 2: 869909057683171/78 là điện thoại của bị cáo T và M1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
- Về trách nhiệm dân sự: TNHH D1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm, Đỗ Thùy T và Từ Công M1 đã bồi thường cho anh Nguyễn Quang C là 30.000.000 đồng. Anh C đã nhận số tiền nêu trên, không yêu cầu T và M1 tiếp tục bồi thường thêm số tiền 9.000.000 đồng còn lại, đồng thời anh C đã làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T và M1 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về phần trách nhiệm dân sự.
[5] Về án phí hình sự mỗi bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thùy T: 04 (B) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị tạm giam.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Từ Công M1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa dảo tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2023.
Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Giao cho cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng đối với vối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Zip, biển số 29B1 - 487.78. Số khung RP8M25310EV105255, số máy M253M4004668.
Tich thu sung ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu S2 A12, imei 354312131667934 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số imei 1: 869909057683163/78, imei 2: 869909057683171/78.
Trả lại 01 điện thoại di động hiệu S2 A4, imei 357260751257303 cho Từ Công Minh.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 193/QĐ-VKS, ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo T và bị cáo M1 phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Triệu Thị Thùy Trang |
Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 132/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
