|
TÒA ÁN NHÂN DÂN T.P PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2024/HSST Ngày: 22/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỎ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh;
Ông Nguyễn Hồng Hải.
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thương Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2024/TLST-HS ngày 22/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HS ngày 07/8/2024; đối với:
Bị cáo: Trần Văn C
(tên gọi khác: Không), sinh năm 1990.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: TDP T, phường T, T.P P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Con ông Trần Văn B và bà Hoàng Thị B1; Có vợ là Trương Thị H; Vợ chồng 02 con chung, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/5/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt).
* Bị hại: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1955; Địa chỉ: TDP H, phường T, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
(Bà H1 có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Lê Thị L, sinh năm 1985; Địa chỉ: TDP H, phường Đ, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
- + Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ngõ A, Đường Y, phường T, quận Đ, T.P H.
- + Chị Đỗ Minh P, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số G, ngõ L, phường T, quận Đ, T.P H.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị P: Anh Đỗ Việt L1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số B, ngách H, ngõ A chợ K, phường T, quận Đ, T.P H.
- + Anh Đỗ Việt L1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số B, ngách H, ngõ A chợ K, phường T, quận Đ, T.P H; Chỗ ở hiện nay: Số B, ngách H, ngõ B M, phường M, quận H, T.P H.
(Chị L, bà V có đơn xin xét xử vắng mặt, chị P vắng mặt, anh L1 có mặt).
* Người làm chứng: Ông Lê Tuyên T, sinh năm 1944; Địa chỉ: TDP K, phường T, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
* Người chứng kiến: Ông Lê Hồng T1, sinh năm 1965; Địa chỉ: TDP K, phường T, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
(Ông T, ông T1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn C là đối tượng nghiện chất ma túy. Do không có tiền mua ma túy sử dụng nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, C đang đi bộ ở khu vực tổ dân phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì gặp bà Nguyễn Thị H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29G1 – 168.27 kéo theo xe cải tiến chở sắt vụn đến quán thu mua sắt vụn Lương H2 của chị Lê Thị L để bán, Công liền nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô kéo theo xe cải tiến của bà H1. C hỏi bà H1 “bà có mua sắt vụn không, về con bán cho bà tạ sắt vụn”, bà H1 hỏi lại “Có gần đây không” C bảo “Nhà cháu bên Tiên P1”, bà H1 tin tưởng đồng ý và bỏ hàng sắt vụn trên xe cải tiến xuống rồi mượn chiếc cân đồng hồ loại 100kg của chị L để vào nhà C cân sắt. Sau đó C đi bộ trước còn bà H1 điều khiển xe mô tô kéo theo xe cải tiến đi phía sau. Đi được một đoạn thì C ngồi lên phía sau xe mô tô của bà H1 để chỉ đường. Khi đi đến khu vực ngã ba dốc C, C không chỉ hướng cho bà H1 đi về nhà mình mà chỉ hướng cho bà H1 đi về hướng Đê C mục đích tìm chỗ vắng người qua lại để lừa chiếm đoạt chiếc xe mô tô kéo theo xe cải tiến phía sau và chiếc cân đồng hồ của bà H1. Khi đi đến đoạn gần nhà máy G, thuộc tổ dân phố T, phường T, thành phố P thì C chỉ tay xuống một ngõ cạnh đường và nói với bà H1 “nhà cháu đây rồi, bà đợi cháu ở đây cháu mượn xe về lấy sắt lên bán cho bà, không thì bố mẹ cháu thấy bà lại không cho bán” thì bà Hòa đồng ý xuống xe và giao xe cho C. C liền ngồi lên xe rồi điều khiển xe đi nhanh thẳng hướng đường Đ đi Đ mà không rẽ xuống ngõ đã chỉ. Biết bị C lừa nên bà H1 đã hô hoán mọi người xung quanh nhưng không có ai đến giúp. Khoảng 20 phút sau thấy có người lái xe ô tô đi qua bà H1 kêu lên thì người này đỗ lại hỏi sự việc, sau đó người lái ô tô đã trở bà H1 đi tìm dọc theo hướng đường Đê Chã Đông Cao vòng ra hướng ngã tư T, thành phố P. Khi đến quán thu mua sắt vụn tại số nhà F, đường H, thuộc tổ dân phố K, phường T, thành phố P thì bà H1 phát hiện C cùng chiếc xe mô tô, xe cải tiến (trên xe cải tiến vẫn còn cân đồng hồ) của mình nên đã bảo người lái ô tô dừng lại hô hoán đuổi theo C. Thấy bà H1 hô hoán và một số người dân gần đó đuổi thì C nhặt một con dao ở gần đó bỏ chạy và nhảy qua tường rào xây của nhà ông Lê Tuyên T. Do tường cao nên sau khi nhảy, C bị ngã gây chấn thương vùng chân, đầu nên nằm im tại vườn nhà ông T. Sau đó người dân đã trình báo Công an phường T đến lập biên bản sự việc, tạm giữ các vật chứng liên quan và đưa C đến Trạm y tế phường T sơ cứu sau đó bàn giao hồ sơ vụ việc cho Công an phường T. Cùng ngày bà H1 đã có đơn trình báo đến Công an phường T đề nghị giải quyết. Ngày 23/01/2024, Công an phường T đã bàn giao hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 12/KLĐG ngày 19/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave gắn biển kiểm soát 29G1-168.27, số khung: RLHH1209AY024068, số máy HC12E-2523963 giá trị còn lại là 4.000.000 đồng; 01 cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu Nhơn H1 loại cân 100kg giá trị còn lại là 200.000 đồng; 01 xe cải tiến có khung bằng kim loại, loại 02 bánh tự chế, trọng lượng xe 51kg giá trị còn lại là 550.000 đồng. Tổng giá trị tài sản theo yêu cầu định giá là 4.750.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave gắn biển kiểm soát 29G1-168.27, số khung: RLHH1209AY024068, số máy HC12E-2523963, bà H1 khai mua của một nam thanh niên không quen biết vào năm 2012 với giá 3.000.000 đồng, khi mua không có giấy tờ gì. Qua xác minh số khung, số máy xác định chủ sở hữu là chị Đỗ Minh P, chị P mua cho em trai là anh Đỗ Việt L1 sử dụng, xe đăng ký biển kiểm soát là 30L6-2741, anh L1 cho biết: vào năm 2012, anh bị mất trộm tại Quận C, Hà Nội nhưng anh không trình báo cơ quan công an do nghĩ không tìm lại được. Hiện anh L1 đã có đơn trình báo và đề nghị xin lại chiếc xe. Đối với chiếc biển kiểm soát 29G1-168.27 gắn theo xe qua xác minh là biển kiểm soát của xe mô tô nhãn hiệu Wave có số khung RLHHC1204BY34578, số máy HC12E3145799 chủ đăng ký là chị Nguyễn Thị Hồng V, chị V cho biết chiếc xe chị đã bán cho người khác vào năm 2012, chị không biết thông tin gì về người mua chiếc xe này, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau; 01 xe cải tiến tự chế bằng kim loại và 01 cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu Nhơn H1 loại cân 100kg Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là bà H1 và chị L quản lý sử dụng; 01 con dao dài 52cm, có tay cầm bằng gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi dao rộng 6,5cm được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên.
Với nội dung nêu trên, Cáo trạng số: 115/CT-VKSPY ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Trần Văn C về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dao dài 52cm, có tay cầm bằng gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi dao rộng 6,5cm.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án; Buộc bị cáo Trần Văn C phải chịu toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận: Bị cáo, anh L1 nhất trí với Luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được Toà án triệu tập hợp lệ tuy nhiên tại phiên toà, bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt; Người làm chứng và người chứng kiến đều vắng mặt không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ, Kiểm sát viên, bị cáo/người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292, 293, 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 20/01/2024, tại khu vực Đ thuộc tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Trần Văn C đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave gắn biển kiểm soát 29G1-168.27, số khung: RLHH1209AY024068, số máy HC12E-2523963, kéo theo 01 xe cải tiến có khung bằng kim loại, loại 2 bánh tự chế, trong lượng xe 51kg, trên xe cải tiến có 01 cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu Nhơn Hòa loại cân 100kg của bà Nguyễn Thị H1 đem đi tiêu thụ thì bị phát hiện, bắt giữ. Tổng giá trị tài sản mà C chiếm đoạt là 4.750.000đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 115/CT-VKSPY ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố bị cáo Trần Văn C về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ.
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.
[4]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét tính chất, mức độ nghiệm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân vì vậy cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự để giáo dục bị cáo và để răn đe, phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Trần Văn C được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12. Từ năm 2008 đến năm 2010 nhập ngũ, đóng quân tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Năm 2010 trở về địa phương làm nghề tự do. Năm 2022 là người nghiện ma tuý tại địa phương, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt: Từ các nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người trưởng thành, đã từng được rèn luyện trong môi trường kỷ luật quân đội, có đủ nhận thức để hiểu được các chế tài của pháp luật đối với hành vi xâm phạm sở hữu của người khác nhưng do nghiện ma tuý, cần tiền tiêu xài, bị cáo đã bất chấp hậu quả, lợi dụng lòng tin của bị hại, bằng thủ đoạn gian dối để bị hại tự nguyện giao tài sản cho mình rồi chiếm đoạt tài sản của họ đem đi tiêu thụ. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Xét thấy, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ, được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave gắn biển kiểm soát 29G1-168.27, số khung: RLHH1209AY024068, số máy HC12E-2523963, bà H1 khai mua của một nam thanh niên không quen biết vào năm 2012 với giá 3.000.000 đồng, khi mua không có giấy tờ gì. Qua xác minh số khung, số máy xác định chủ sở hữu là chị Đỗ Minh P, chị P mua cho em trai là anh Đỗ Việt L1 sử dụng, xe đăng ký biển kiểm soát là 30L6-2741, anh L1 cho biết: vào năm 2012, anh bị mất trộm tại Quận C, Hà Nội nhưng anh không trình báo cơ quan công an do nghĩ không tìm lại được. Hiện anh L1 đã có đơn trình báo và đề nghị xin lại chiếc xe. Đối với chiếc biển kiểm soát 29G1-168.27 gắn theo xe qua xác minh là biển kiểm soát của xe mô tô nhãn hiệu Wave có số khung RLHHC1204BY34578, số máy HC12E3145799 chủ đăng ký là chị Nguyễn Thị Hồng V, chị V cho biết chiếc xe chị đã bán cho người khác vào năm 2012, chị không biết thông tin gì về người mua chiếc xe này. Do chưa đủ cơ sở để xác định chủ sở hữu/người quản lý hợp pháp, Cơ quan CSĐT đã tách ra để tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp;
- - Đối với 01 xe cải tiến tự chế bằng kim loại và 01 cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu Nhơn H1 loại cân 100kg Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là bà H1 và chị L quản lý sử dụng là phù hợp;
- - Đối với 01 con dao dài 52cm, có tay cầm bằng gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi dao rộng 6,5cm do bị cáo C nhặt được trên đường, không xác định được chủ sở hữu/người quản lý hợp pháp, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về các vấn đề khác: Không có.
[10]. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về các vấn đề trong vụ án là có căn cứ, phù hợp, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn C 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/5/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao có tay cầm bằng gỗ cũ, bị rỉ sét, có tổng chiều dài 52cm, phần lưỡi dao rộng 6,5cm đã qua sử dụng được niêm phong có dấu đỏ bọc bằng tờ giấy báo.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố P với Chi cục THADS thành phố P).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Dung |
Bản án số 132/2024/HSST ngày 22/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 132/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn C bị truy tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
