TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 132/2024/DS-ST Ngày: 22/7/2024 V/v: Tranh chấp HĐ bảo đảm | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thuý Anh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Sơn;
Ông Vương Đình Quang.
- Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dung, Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm không tham gia phiên tòa.
Ngày 22/7/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án DS thụ lý số: 09/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp HĐ bảo đảm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST ngày 13/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 102A/2024/QÐST ngày 31/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2024/QÐST ngày 17/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2024/QÐST ngày 03/7/2024; giữa:
• Nguyên đơn: Công ty cổ phần K1.
Địa chỉ trụ sở: Tầng A, tòa nhà S, A P, phường M, quận N, thành phố H.
Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Ngọc D, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn K, ông Phạm Đình L, bà Ngô Quỳnh A (Theo Văn bản ủy quyền số 01/UQSSH ngày 09/01/2024). Bà Quỳnh A có mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1974. Nơi thường trú: Căn hộ A - T, tòa nhà G – TDP số 5, M, phường M, quận N, thành phố H. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần K1. Địa chỉ đăng ký kinh doanh: Tầng A, Tòa nhà S, A P, phường M, quận N, thành phố H.
Đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Hữu T1. Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị L1 – Cán bộ pháp chế (Theo Văn bản ủy quyền số 02/UQ-SSTH ngày 17/01/2024). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:
Công ty cổ phần K1 (sau đây gọi là “Nhà Sunshine”) là đơn vị môi giới bất động sản và có khả năng thu xếp cho khách hàng mua sản phẩm là Nhà ở tại Dự án Sunshine W tại địa chỉ ô đất I.B.26-NO, I.C.36-NO thuộc khu đô thị N (giai đoạn II), phường P, quận T và phường Đ, quận B, H (“Dự Án”).
Ngày 08/12/2018, Nguyên đơn và Bị đơn đã ký kết hợp đồng bảo đảm số D6/2018/SSWV/HĐBĐ (“Hợp Đồng”). Theo đó, Nhà S có trách nhiệm thực hiện dịch vụ thu xếp, bảo đảm để Bị đơn mua nhà ở của Dự Án từ Chủ Đ. Thông tin căn nhà mà Nguyên đơn có trách nhiệm thu xếp như sau:
- Loại nhà ở: Nhà liền kề Shophouse
- Đặc điểm của nhà ở: Nhà xây thô hoàn thiện mặt ngoài
- Địa chỉ nhà ở: Lô đất số D6 thuộc ô đất I.B.26-NO, I.C.36-NO thuộc khu đô thị N (giai đoạn II), phường P, quận T và phường Đ, quận B, thành phố H
- Diện tích đất: 120,00m2; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Để ở và kinh doanh; thời hạn sử dụng: Lâu dài.
Thời hạn để Nguyên đơn thu xếp việc ký Hợp đồng mua bán giữa Bị đơn và Chủ đầu tư là tháng 06/2021. Cho đến thời điểm của Đơn khởi kiện này, Nguyên đơn vẫn chưa thu xếp được để Bị đơn ký hợp đồng mua bán với Chủ đầu tư.
Về phía Bị đơn, theo Hợp Đồng, Bị đơn có nghĩa vụ chuyển khoản tiền đảm bảo theo quy định của Hợp Đồng cho Nhà S. Tổng số tiền đảm bảo mà Nguyên đơn đã nhận của Bị đơn là 4,380,000,000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ, ba trăm tám mươi triệu đồng).
Trong quá trình triển khai Dự Án, do phát sinh sự kiện bất khả kháng liên quan đến tiến độ pháp lý của Dự Án nên Nguyên Đ không thể tiếp tục thực hiện việc thu xếp để Bị Đ1 được mua nhà ở của Dự Án từ chủ đầu tư theo hợp đồng bảo đảm đã ký kết. Cụ thể, ngày 03/11/2023 Công ty cổ phần K1 (Sunshine T) gửi đến Nhà S Thông báo chấm dứt hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản; tiếp đến ngày 05/11/2023 theo yêu cầu từ phía Sunshine T thì Nhà S và Sunshine Tây H đã ký biên bản thanh lý hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản số 01/HDDVTVMGBDS/SSTH-SSH (HĐ 01).
Sau khi thực hiện việc thanh lý HĐ 01, Nguyên đơn nhận thấy quyền thu xếp mua nhà ở tại Dự Án cho Bị đơn không còn nên Nguyên Đ đã nhanh chóng liên lạc với Bị Đơn để: (1) thông báo về việc Nguyên Đơn không thể thu xếp việc ký kết hợp đồng mua bán giữa Bị Đơn và chủ đầu tư; và (2) mời Bị Đơn đến thanh lý Hợp Đồng để nhận lại tiền bảo đảm và lợi ích sau khi Hợp Đồng chấm dứt.
Sau nhiều lần liên lạc và trao đổi nhưng Bị đơn không phối hợp và làm việc với Nguyên đơn để hoàn thiện thủ tục thanh lý Hợp Đồng và nhận lại khoản tiền khách hàng đã thanh toán mua nhà. Ngày 07/11/2023, Nguyên đơn buộc phải gửi Thông báo vv chấm dứt hợp đồng đảm bảo đến Bị đơn và đề nghị Bị đơn đến để thực hiện thủ tục thanh lý. Tuy nhiên, Bị đơn vẫn không đồng ý thực hiện thủ tục thanh lý. Nhận thấy nếu không thanh lý được Hợp đồng và hoàn trả tiền đảm bảo cho khách hàng thì Nguyên đơn vẫn sẽ tiếp tục phải chịu tiền lãi đối với khoản tiền bảo đảm. Như vậy, việc khách hàng chậm trễ thực hiện thủ tục thanh lý hợp đồng gây thiệt hại không nhỏ đến Nhà S, ảnh hưởng đến nguồn tài chính của công ty.
Để giảm thiểu thiệt hại cho Nhà S và đảm bảo lợi ích của khách hàng được thực hiện, Nguyên đơn buộc phải khởi kiện Bị đơn để kính đề nghị Tòa án xem xét giải quyết như vấn đề sau:
- Công nhận Hợp đồng bảo đảm số D6/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 08/12/2018 đã chấm dứt từ ngày ghi trên Thông báo chấm dứt là ngày 07/11/2023;
- Đề nghị Toà án buộc Bị đơn hoàn thiện thủ tục thanh lý hợp đồng bảo đảm số D6/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 08/12/2018 với Nguyên đơn để nhận lại khoản tiền là: 5,648,985,000 đồng, bao gồm, tiền bảo đảm là 4,380,000,000 đồng và 1,270,080,000 đồng với mức lãi suất 06%/năm tính từ ngày Nguyên đơn nhận khoản tiền bảo đảm đến ngày thông báo chấm dứt Hợp Đồng (tính từ ngày 01/8/2019 đến ngày 07/11/2023), khoản tiền nêu trên đã trừ đi 1,095,000 đồng tiền lãi do Bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Về việc quan hệ hợp đồng giữa Công ty Cổ phần K1 và Công ty Kinh doanh Nhà Sunshine
- Về việc Công ty K1 được xác định là người có quyền và lợi ích liên quan
Công ty cổ phần Sunshine Tây Hồ (sau đây gọi là “Sunshine T”) là công ty có chức năng kinh doanh bất động sản đang trong quá trình hợp tác đầu tư với chủ đầu tư để thực hiện Dự án Sunshine W tại địa chỉ ô đất I.B.26-NO, I.C.36-NO thuộc khu đô thị N (giai đoạn II), phường P, quận T và phường Đ, quận B, thành phố H (“Dự Án”).
Ngày 01/6/2018, K1 và Công ty cổ phần K1 (sau đây gọi là “Nhà Sunshine”) có ký kết Hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản Dự án S1 (“Hợp Đồng”). Theo đó, Nhà S có quyền triển khai tìm kiếm khách hàng tiềm năng, nghiên cứu thị trường, khảo sát nhu cầu khách hàng, giới thiệu và môi giới các bất động sản của Dự án theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình triển khai Dự Án, do phát sinh sự kiện bất khả kháng liên quan đến tiến độ pháp lý của Dự Án theo quy định tại Điều 1.12 và Điều 8.3 của Hợp đồng dẫn đến việc Sunshine T không thể tiếp tục thực hiện Hợp đồng và phải quyết định chấm dứt toàn bộ Hợp đồng với K1 bằng Thông báo chấm dứt Hợp đồng ngày 03/11/2023. Đến ngày 05/11/2023, Sunshine T và Nhà S đã ký biên bản thanh lý hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản số 01/HDDVTVMGBĐS/SSTH-SSH ngày 01/6/2018 và quyết định chấm dứt toàn bộ hiệu lực của Hợp đồng kể từ ngày 03/11/2023.
Sau khi chấm dứt Hợp đồng, Nhà S sẽ không thể tiếp tục triển khai việc tìm kiếm khách hàng tiềm năng, tư vấn, giới thiệu, môi giới và thu xếp để khách hàng ký kết hợp đồng mua bán với Chủ đầu tư đối với các bất động sản của Dự án theo quy định của pháp luật.
Sau khi Hợp đồng giữa Sunshine T và Nhà Sunshine chấm dứt, hai bên đã tiến hành các công việc cần thiết để xử lý hậu quả của việc chấm dứt. Đối với giao dịch giữa Công ty K1 và bà Phạm Thị T mà Quý Toà đang giải quyết, Công ty K1 nhận thấy không có bất kỳ quyền và lợi ích nào liên quan đến giao dịch và vụ việc này. Do đó, chúng tôi kính đề nghị Quý Toà không đưa Công ty K1 tham gia vụ việc với tư cách là người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án. Trong trường hợp Quý Toà cần thêm thông tin nào liên quan để phục vụ cho việc giải quyết vụ việc, trong phạm vi có thể, chúng tôi sẽ cố gắng cung cấp cho Quý T2.
Trong trường hợp Quý Toà vẫn tiếp tục đưa Công ty K1 tham gia vụ án với tư cách người có quyền và lợi ích liên quan thì chúng tôi cũng xin vắng mặt tại toàn bộ các buổi làm việc, buổi hoà giải, phiên xét xử của vụ án. Kính đề nghị Quý Toà giải quyết vụ việc theo quy định mà không có mặt của Công ty K1.
Bị đơn vắng mặt trong cả quá trình giải quyết vụ án, vì vậy Toà án không tiến hành lấy được lời khai của bị đơn.
Tại phiên tòa:
+ Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Cụ thể:
- Yêu cầu công nhận Hợp đồng bảo đảm số D6/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 08/12/2018 đã chấm dứt từ ngày ghi trên Thông báo chấm dứt là ngày 07/11/2023;
- Đề nghị Toà án buộc Bị đơn hoàn thiện thủ tục thanh lý hợp đồng bảo đảm số D6/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 08/12/2018 với Nguyên đơn để nhận lại khoản tiền là: 5,648,985,000 đồng, bao gồm, tiền bảo đảm là 4,380,000,000 đồng và 1,270,080,000 đồng với mức lãi suất 06%/năm tính từ ngày Nguyên đơn nhận khoản tiền bảo đảm đến ngày thông báo chấm dứt Hợp Đồng (tính từ ngày 01/8/2019 đến ngày 07/11/2023), khoản tiền nêu trên đã trừ đi 1,095,000 đồng tiền lãi do Bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng bảo đảm về việc mua bán nhà ở vì vậy xác định là tranh chấp dân sự theo Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty CP K1 khởi kiện bà Phạm Thị T có địa chỉ tại: Căn hộ A - T, tòa nhà G – TDP số 5, M, phường M, quận N, thành phố H, khởi kiện vụ án ra Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội là đúng quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Toà án triệu tập nhiều lần tuy nhiên bị đơn không đến Toà án để giải quyết. Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà bị đơn đã vắng mặt nhiều lần; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin xét xử vắng mặt vì vậy Toà án tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Cụ thể:
- Yêu cầu công nhận Hợp đồng bảo đảm số D6/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 08/12/2018 đã chấm dứt từ ngày ghi trên Thông báo chấm dứt là ngày 07/11/2023;
- Đề nghị Toà án buộc Bị đơn hoàn thiện thủ tục thanh lý hợp đồng bảo đảm số D6/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 08/12/2018 với Nguyên đơn để nhận lại khoản tiền là: 5,648,985,000 đồng, bao gồm, tiền bảo đảm là 4,380,000,000 đồng và 1,270,080,000 đồng với mức lãi suất 06%/năm tính từ ngày Nguyên đơn nhận khoản tiền bảo đảm đến ngày thông báo chấm dứt Hợp Đồng (tính từ ngày 01/8/2019 đến ngày 07/11/2023), khoản tiền nêu trên đã trừ đi 1,095,000 đồng tiền lãi do Bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 08/12/2018, Nguyên đơn và Bị đơn đã ký kết hợp đồng bảo đảm số D6/2018/SSWV/HĐBĐ (“Hợp Đồng”). Theo đó, Nhà S có trách nhiệm thực hiện dịch vụ thu xếp, bảo đảm để Bị đơn mua nhà ở của Dự Án từ Chủ Đ. Hợp đồng hai bên kí kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật – là Hợp đồng hợp pháp.
Bị đơn có nghĩa vụ chuyển khoản tiền đảm bảo theo quy định của Hợp Đồng cho Nhà S. Tổng số tiền đảm bảo mà Nguyên đơn đã nhận của Bị đơn là 4,380,000,000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ, ba trăm tám mươi triệu đồng).
Thời hạn để Nguyên đơn thu xếp việc ký Hợp đồng mua bán giữa Bị đơn và Chủ đầu tư là tháng 06/2021. Tuy nhiên theo nguyên đơn trình bày, ngày 03/11/2023 Công ty cổ phần K1 (Sunshine T) gửi đến Nhà S Thông báo chấm dứt hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản; tiếp đến ngày 05/11/2023 theo yêu cầu từ phía Sunshine T thì Nhà S và Sunshine Tây H đã ký biên bản thanh lý hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản số 01/HDDVTVMGBDS/SSTH-SSH (HĐ 01).
Như vậy nguyên đơn không còn được quyền thu xếp cho khách hàng mua sản phẩm là Nhà ở tại Dự án Sunshine W tại địa chỉ ô đất I.B.26-NO, I.C.36-NO thuộc khu đô thị N (giai đoạn II), phường P, quận T và phường Đ, quận B, thành phố H (“Dự Án”). Như vậy theo điểm d, Điều 4.2 của Hợp đồng bảo đảm, Hợp đồng bị chấm dứt do lỗi của nguyên đơn.
Do vậy, việc nguyên đơn yêu cầu Toà án Công nhận Hợp đồng bảo đảm số D6/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 08/12/2018 đã chấm dứt – là có căn cứ, HĐXX chấp nhận.
Về hậu quả của việc chấm dứt Hợp đồng:
Nguyên đơn thừa nhận đã nhận của bị đơn đủ số tiền bảo đảm là 4.380.000.000 đồng. Hợp đồng đơn phương chấm dứt do lỗi của nguyên đơn vì vậy theo điểm c, Điều 4.3 của HĐ bảo đảm, nguyên đơn phải hoàn trả toàn bộ tiền bảo đảm đã nhận cộng với lãi suất 6%/năm tính trên khoản tiền bảo đảm đã nhận và số ngày kể từ ngày nguyên đơn nhận đủ khoản tiền bảo đảm đến ngày hoàn trả.
Như vậy nguyên đơn phải hoàn trả bị đơn số tiền bảo đảm đã nhận là 4.380.000.000 đồng.
Đối với số tiền lãi suất: được tính từ ngày 01/8/2019 – là ngày nguyên đơn nhận đủ số tiền bảo đảm. Ngày 07/11/2023, nguyên đơn đã gửi Thông báo về việc chấm dứt Hợp đồng bảo đảm đến cho bị đơn và mời bị đơn tham dự buổi làm việc để thống nhất giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên sau khi chấm dứt hợp đồng vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 15/11/2023, tuy nhiên bị đơn không có mặt. Ngày 04/12/2023, nguyên đơn tiếp tục gửi Thông báo lần 2 đến cho bị đơn và mời bị đơn tham dự buổi làm việc để thống nhất giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên sau khi chấm dứt hợp đồng chậm nhất ngày 09/12/2023. Bị đơn có mặt tuy nhiên không đồng ý chấm dứt Hợp đồng với nguyên đơn. Theo quy định tại điểm c, Điều 4.3 của HĐ bảo đảm, thời điểm nguyên đơn phải chịu lãi suất 6%/năm tính trên khoản tiền bảo đảm đã nhận, kể từ ngày nguyên đơn nhận đủ khoản tiền bảo đảm (ngày 01/8/2019) đến ngày hoàn trả (theo Thông báo lần 2 của nguyên đơn) HĐXX xác định là ngày 09/12/2023. Ngày 09/12/2023 là ngày xác nhận Hợp đồng chấm dứt và nguyên đơn phải thực hiện hoàn trả lại cho bị đơn toàn bộ số tiền gốc đã nhận là 4.380.000.000 đồng.
Như vậy số tiền lãi mà nguyên đơn phải trả cho bị đơn được tính như sau:
4.380.000.000 đồng x 6%/năm :365 ngày x 1796 ngày = 1.293.120.000 đồng (tính từ ngày 01/8/2019 đến ngày 09/12/2023).
Đối với số tiền nguyên đơn yêu cầu: 1.095.000 đồng – do bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền bảo đảm (1 ngày) nên phải chịu tiền phạt chậm thanh toán theo quy định tại điểm f, Điều 3.2 và điểm b, Điều 2.1 của Hợp đồng là: 2.190.000.000 x 0,05%/ngày x 1 ngày = 1.095.000 đồng – là có căn cứ, HĐXX chấp nhận.
[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 khoản 1, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 428 Bộ luật dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội năm 2016.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần K1 đối với bà Phạm Thị T về việc “Yêu cầu chấm dứt Hợp đồng bảo đảm”.
- Công nhận Hợp đồng bảo đảm số D6/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 08/12/2018 kí giữa Công ty cổ phần K1 và bà Phạm Thị T đã chấm dứt từ ngày 09/12/2023.
- Hậu quả của việc chấm dứt Hợp đồng bảo đảm:
- Về án phí: Bà Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Công ty CP K1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai BLTU/23 0009285 ngày 12/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bà Phạm Thị T được nhận lại số tiền bảo đảm đã nộp là 4.380.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 06%/năm tính từ ngày Công ty cổ phần kinh doanh nhà S nhận khoản tiền bảo đảm đến ngày hoàn trả (Từ ngày 08/01/2019 đến ngày 09/12/2023) là 1.293.120.000 đồng.
Bà Phạm Thị T phải chịu 1.095.000 đồng tiền chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đợt 02 (chậm 01 ngày).
Như vậy bà T được nhận lại tổng số tiền là 5.672.025.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Q.Nam Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Chi cục THADS Q.NamTừ Liêm; - Lưu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thuý Anh |
Bản án số 132/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hđ bảo đảm
- Số bản án: 132/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐ bảo đảm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: công ty cổ phần K1; Bị đơn: Phạm Thị T; Nội dung: tranh chấp hợp đồng bảo đảm
