Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 132/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NΑΙ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch và ông Tạ Văn Đài.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HS ngày 06/5/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Phi H, sinh năm 1991 tại Bình Dương; Nơi cư trú: tổ 1, ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: thợ hồ; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Phi H1, sinh năm 1960 và con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1962; Vợ: Vương Thị Tuyết Mai T, sinh năm 1991 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiềnsự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 được hủy bỏ quyết định tạm giữ; Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)

Bị hại: Ông Lê Văn K, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Đường Đ, tổ D, ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Kim T1, sinh năm: 1997. Cư trú tại: Tổ C, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. ( vắng mặt)

Người làm chứng: Bà Đặng Thị H2, sinh năm 1982. ( Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phi H là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 28/12/2023, H điều khiển xe mô tô biển số 60AK – 076.67 đi trên đường Đ-777 thuộc ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Khi đi đến trước nhà ông Lê Văn K, H quan sát thấy 01 máy xay thịt hiệu ATS để trên bàn, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. H dựng xe mô tô ở ngoài đường rồi đi bộ đến bàn để máy xay thịt, rút dây điện sau đó dùng hai tay nâng máy xay thịt lên định đưa ra ngoài, cùng lúc này ông K ở trong nhà nhìn qua màn hình camera phát hiện nên chạy ra bắt giữ H cùng tang vật gồm 01 máy xay thịt nhãn hiệu ATS và 01 xe mô tô biển số 60AK – 076.67 giao cho Công an xã A. Công an xã A đã lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để điều tra theo thẩm quyền.

Tại Bảnluận định giá tài sản của Hội đồng định giá UBND huyện T đã kết luận: 01 máy xay thịt do Đài Loan sản xuất, nhãn hiệu ATS (đã qua sử dụng) trị giá: 6.700.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm ngàn đồng).

Về vật chứng:

- Đối với 01 máy xay thịt nhãn hiệu ATS là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn K nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại tài sản cho ông K.

- Đối với xe mô tô biển số 60AK – 076.67 là tài sản hợp pháp của bà Phan Thị Kim T1, bị cáo H sử dụng xe vào việc phạm tội bà T1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại tài sản cho bà T1.

Về trách nhiệm dân sự: ông Lê Văn K đã nhận lại tài sản và không yêu cầu giải quyết về phần dân sự.

Tại bản cáosố 116/CT-VKS-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo Nguyễn Phi H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hìnhsự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo H từ 03 đến 06 tháng tù.
  2. Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 28/12/2023, tại ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Nguyễn Phi H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy xay thịt hiệu ATS của ông Lê Văn K trị giá 6.700.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm nghìn đồng). Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Phi H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo chưa mang được tài sản ra khỏi khu vực quản lý của ông Lê Văn K thì bị bắt quả tang nên hậu quả vụ án chưa xảy ra và bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo nên chỉ có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.

[2] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ông Lê Văn K được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hìnhBị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về trách nhiệm dân sự: ông Lê Văn K đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tốhình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thườngvụ Quốc hội.

[6] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 57 Bộ luật hìnhsự:
    1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 05 (năm) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải để chấp hành hình phạt tù, nhưng được trừ đi thời hạn giam giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024.
  2. Căn cứ vào ĐiềuBộ luật tốhình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban ThườngQuốc hội: Buộc bị cáo H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai ;
  • - VKSND H. Trảng Bom; tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra CAH. Trảng Bom;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - THA, Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Thị Bích Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 132/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Phi Hiệp phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger