|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:132/2024/DS-PT
Ngày: 21/6/2024.
V/v: “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ tài sản
do người chết để lại”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang và bà Phạm Thị Chuyền;
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Hà Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 21/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2024/TLPT- DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2024/DS-ST ngày 01/2/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 136/2024/QĐ-PT ngày 27/5/2024 giữa:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1961 (Có mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Quang S, sinh năm 1982 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Khắc Q, sinh năm 1958 (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Khắc Q1, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
- Chị Trần Thị T, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
Đều địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
(Ông Nguyễn Khắc Q, anh Nguyễn Khắc Q1, chị Nguyễn Thị L, chị Trần Thị T ủy quyền cho bà Nguyễn Thị G). (bà G có mặt).
- Anh Nguyễn Quang H1, sinh năm 1983 (Có mặt).
- Chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1992 (Có mặt).
Đều địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
(Anh Nguyễn Quang H1, chị Nguyễn Thị Lan A ủy quyền tham gia tố tụng cho anh Nguyễn Quang S).
- Chị Đặng Thị H2, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Quang S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn bổ sung và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết tại Toà án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày:
Bà và bà Hồ Thị L1 có quan hệ quen biết nhau, năm 2011 bà Hồ Thị L1 có hỏi bà vay tiền do không có tiền bà có một lô đất gần UBND xã Q, V cho bà L1 mượn để bán, sau đó bà L1 trả bà 01 lô đất khác có giá trị tương đương, sau đó bà đòi nhiều lần bà L1 không trả. Đến ngày 12/6/2019 bà Hồ Thị L1 có gọi bà lên nhà bà L1 và thống nhất lại tiền nong cụ thể bà L1 nói không có đất để trả mà trả bà số tiền có giá trị 700.000.000 đồng, trả thành tiền 04 quý năm 2020, mỗi quý 03 tháng tính từ 1/1/2020 đến hết năm mỗi quý trả 175.000.000 đồng, hạn cuối cùng là 30/12/2020. Bà L1 trực tiếp viết giấy thỏa thuận, các bên trực tiếp ký vào giấy thỏa thuận, không ai bị ép buộc gì, có ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1946 (Địa chỉ: Năm N, Q, V, Bắc Giang) là người làm chứng. Khi chưa đến hạn thanh toán, đến tháng 7/2019 bà Hồ Thị L1 chết không trả được nợ bà. Anh Nguyễn Quang S là con đẻ của bà L1 là người thừa kế diện tích đất 301,5 m2 của bà Hồ Thị L1, những người con khác của bà L1 không ai thừa hưởng tài sản gì của bà L1 nhưng anh S không trả nợ cho mẹ anh là bà Hồ Thị L1. Do vậy bà khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết buộc anh Nguyễn Quang S phải trả bà số tiền gốc 700.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/01/2021 đến ngày xét xử xong vụ án.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và những lời khai tiếp theo tại Toà án cũng như tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Quang S trình bày:
Anh là con đẻ của bố Nguyễn Quang Đ và mẹ Hồ Thị L1, bố anh mất năm 2010, mẹ anh mất năm 2019. Sau khi chết anh em anh thống nhất cho anh là người được thừa hưởng tài sản của mẹ anh là diện tích đất 301,5 m2, việc mượn đất giữa mẹ anh bà L1 và bà G thế nào anh không biết, không liên quan. Việc mẹ anh và bà Nguyễn Thị G viết giấy thỏa thuận ngày 12/9/2019 thế nào anh cũng không biết, không liên quan. Do vậy bà Nguyễn Thị G khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết buộc anh phải trả bà số tiền gốc 700.000.000 đồng và tiền lãi
phát sinh từ ngày 01/01/2021 đến ngày xét xử xong vụ án. Anh không nhất trí. Anh cũng đã nhận được thông báo kết quả thẩm định, định giá diện tích đất 301,5 m2 theo GCNQSÐ đất có số vào sổ cấp GCNQSD Đ số:03665/QSD Đ/1242 cấp ngày 28/7/2001 mang tên mang tên ông Nguyễn Quang Đ, bà Hồ Thị L1, sau đó thừa kế cho mẹ anh bà Hồ Thị L1 theo văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 14/7/2012, theo hồ sơ biến động số 000042 ngày 16/8/2012, sau đó thừa kế cho anh, trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa anh S không yêu cầu thẩm định và định giá lại.
Tại bản tự khai,biên bản ghi lời khai và những lời khai tiếp theo tại Toà án cũng như tại phiên tòa những người có quyền và nghĩa vụ liên quan trình bày:
1. Ông Nguyễn Khắc Q trình bày:
Ông xác định gia đình ông có một mảnh đất do vợ ông bà Nguyễn Thị G cho bà Hồ Thị L1 mượn để bán từ năm 2011, sau đó bà L1 phải trả gia đình ông một mảnh đất khác, bà L1 không trả. Đến ngày 12/6/2019 bà Hồ Thị L1 và vợ ông bà G có thống nhất giá trị thửa đất 700.000.000 đồng, bà L1 sẽ trả thành tiền 04 quý năm 2020, mỗi quý 03 tháng tính từ 1/1/2020 đến hết năm mỗi quý trả 175.000.000 đồng, hạn cuối cùng là 30/12/2020. Khi chưa đến hạn thanh toán tiền, bà Hồ Thị L1 bị chết đột quỵ nên không trả được nợ cho gia đình ông. Nay vợ ông bà Nguyễn Thị G yêu cầu anh Nguyễn Quang S là người thừa hưởng di sản thừa kế của bà L1 trả nợ, ông nhất trí. Do công việc bận ông ủy quyền cho vợ ông bà Nguyễn Thị G thay ông tham gia giải quyết vụ án, mọi vẫn đề liên quan đến vụ án do vợ ông bà Nguyễn Thị G quyết định.
2. Anh Nguyễn Khắc Q1, chị Nguyễn Thị L, chị Trần Thị T đều trình bày:
Các anh chị là con của bà Nguyễn Thị G, các anh chị đều xác định việc mua bán, mượn đất, thống nhất thỏa thuận nghĩa vụ trả tiền của bà Hồ Thị L1 và bà Nguyễn Thị G thế nào, các anh chị không biết, liên quan. Do công việc bận các anh chị đều ủy quyền cho mẹ chồng là bà Nguyễn Thị G thay anh chị tham gia giải quyết vụ án.
2. Anh Nguyễn Quang H1, Nguyễn Thị Lan A, chị Đặng Thị H2 đều trình bày:
Các anh chị là con của bà Hồ Thị L1, các anh chị đều xác định việc mua bán, mượn đất, thống nhất thảo thuận nghĩa vụ trả tiền của bà Hồ Thị L1 và bà Nguyễn Thị G thế nào, các anh chị không biết, liên quan, không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà G.
3. Về việc định giá tài sản: Tại thông báo kết quả đo đạc, định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/9/2023 xác định: Do bị đơn không hợp tác không tiến hành định giá được thửa đất anh Nguyễn Quang S thừa kế của mẹ anh, căn
cứ vào khoản 2 Điều 17 Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC ngày 28/03/2014 nguyên đơn đưa ra giá trị thửa đất có giá trị 1.000.000.000 đồng và ngôi nhà trên đất có giá trị 300.000.000 đồng .
Tại biên bản ghi lời khai người làm chứng ông Nguyễn Đức N trình bày:
Ông có quan hệ quen biết với bà Hồ Thị L1, vào ngày 12/6/2019 bà Hồ Thị L1 gọi ông lên nhà bà, khi lên nhà bà L1 thì bà L1 có lập một giấy nhận trả nợ cho bà G và bảo ông ký vào còn việc vay mượn thỏa thuận cụ thể giữa bà G và bà L1 thế nào ông không biết.
Từ những nội dung nêu trên, bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 01/2/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn đã quyết định:
Áp Dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91; Điều 156; Điều 157; Điều 164; Điều 165; Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điều 229; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 429; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 469; Điều 615; Điều 623 BLDS năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án;
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G.
Buộc anh Nguyễn Quang S phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị G số tiền gốc 700.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày xét xử 1/2/2024 là 215.810.000 đồng. Tổng số cả gốc và lãi: 915.810.000 đồng trong phạm vi giá trị di sản thừa kế của bà Hồ Thị L1 để lại cho anh Nguyễn Quang S là diện tích đất 301,5 m2 theo GCNQSÐ đất có số vào sổ cấp GCNQSD Đ số:03665/QSD Đ/1242 cấp ngày 28/7/2001 mang tên mang tên ông Nguyễn Quang Đ, bà Hồ Thị L1 do bà Hồ Thị L1 thừa kế lại theo văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 14/7/2012, theo hồ sơ biến động số 000042 ngày 16/8/2012, hiện nay anh Nguyễn Quang S được thừa hưởng theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản có số công chứng 2161/2022/VBTTPCDSTK, quyển sổ 01/TP/CC-SCC/HĐGD
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí định giá, xem xét thẩm định tại chỗ, án phí và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 01/2/2024, anh Nguyễn Quang S kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không thay đổi, bổ sung rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn không thay đổi, bổ sung hoặc rút kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn bà G trình bày: Bà có cho bà L1 mẹ anh S mượn một lô đất giãn dân, lúc đó chưa có ai được cấp phiếu, giấy tờ bà giao hết cho bà L1, bà L1 lại bán lại cho người khác hay không hay như thế nào thì bà không rõ. Sau đó, bà L1 có hẹn bà trả thành 4 quý, mỗi quý là 115 triệu đồng. Hai bên viết giấy biên nhận thanh toán. Chưa đến hạn trả thì bà L1 chết đột ngột. Sau khi bà L1 chết thì có xuống dưới nhà gặp anh S là con của bà L1 đề nghị anh S là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà L1 nhưng anh S không đồng ý nên bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn anh Nguyễn Quang S trình bày: Anh đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định thiếu quan hệ pháp luật; chưa thu thập đủ tài liệu chứng cứ liên quan đến nội dung vay mượn tài sản giữa bà Hồ Thị L1 – mẹ đẻ của anh đã chết và bà Nguyễn Thị G. Tài sản cho vay giữa bà G và bà L1 không có thật. Bà G không chứng minh được bản thân là đối tượng được cấp đất giãn dân. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ chưa chính xác. Hồ sơ giãn dân năm 2001 của UBND phường Q không có tên bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Quang T1. Tài sản giao dịch giữa bà L1 và bà G không có thật nên giao dịch dân sự giữa bà L1 là mẹ anh và bà G không phát sinh hiệu lực. Vì vậy yêu cầu của bà G yêu cầu người có người thừa kế của bà L1 là anh phải thực hiện quyền nghĩa vụ do bà L1 để lại là không có cơ sở.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị Lan A trình bày: Anh chị nhất trí với trình bày của anh S, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà G.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng khoản 1, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Quang S, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Quang S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Một số người có quyền lợi nghĩa vu liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt những người này là đảm bảo quy định tại Khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo lời khai của nguyên đơn bà G thì bà và bà Hồ Thị L1 có quan hệ quen biết, ban đầu bà L1 mượn của bà một lô đất để bán, nhưng bà L1 không trả bà một lô đất đã mượn, cũng không trả tiền bà, đến ngày 12/6/2019 bà Hồ Thị L1 mẹ đẻ anh Nguyễn Quang S có thỏa thuận thống nhất nợ bà bằng tiền 700.000.000 đồng, hai bên làm hợp đồng, cùng ký vào hợp đồng, thống nhất trả 04 quý năm 2020, (mỗi quý 03) tháng tính từ 1/1/2020 đến hết năm mỗi quý trả 175.000.000 đồng, hạn cuối cùng là 30/12/2020 có chữ ký của bà Hồ Thị L1, có người làm chứng ông Nguyễn Đức N cùng ký vào giấy trả tiền như vậy bà G và bà L1 đã thiết lập giao dịch dân sự, chuyển từ việc mượn đất sang thành hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015. Về nội dung và hình thức của hợp đồng hoàn toàn phù hợp với Điều 433 Bộ luật dân sự năm 2015. Trong Giấy vay tiền có ông Nguyễn Đức N là người làm chứng ký tên. Ông N xác nhận bà L1 có lập một giấy nhận trả nợ cho bà G và bảo ông ký. Do đó, có căn cứ xác định khi ký hợp đồng các bên có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự. Các bên hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Hợp đồng vay tài sản giữa bà G và bà L1 thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 BLDS và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Bị đơn anh S cho rằng không biết việc bà L1 mẹ anh vay mượn tiền của bà G; khi còn sống bà cũng không nói chuyện gì về việc vay mượn tiền trên, anh S cũng không đưa ra được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào về chứng minh việc mẹ anh bà L1 không nợ bà G, không đưa chứng cứ gì xác định chữ ký trong giấy vay tiền ngày 12/6/2019 không phải là chữ ký của mẹ anh, không có tài liệu nào thể hiện mẹ anh bà L1 đã trả bà G khoản tiền này, Anh có tài liệu là chữ ký gốc của mẹ anh, Tòa án giải thích cho anh quyền đề nghị giám định để đối chiếu với chữ ký trong giấy vay tiền ngày 12/6/2019 nhưng anh cũng không yêu cầu.
Về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ: Xét giấy vay tiền giữa bà L1 và bà G thể hiện nội dung việc trả nợ được trả thành tiền 04 quý năm 2020, mỗi quý 03 tháng tính từ 1/1/2020 đến hết năm mỗi quý trả 175.000.000 đồng, hạn cuối cùng là 30/12/2020. Tuy nhiên, đến tháng 7/2019 bà Hồ Thị L1 chết và chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho bà G. Khi chết bà L1 có để lại di sản được xác định đến nay là diện tích đất diện tích đất 301,5 m2 theo GCNQSÐ đất có số vào sổ cấp GCNQSD
Đ số:03665/QSD Đ/1242 cấp ngày 28/7/2001 mang tên mang tên ông Nguyễn Quang Đ, bà Hồ Thị L1 do bà Hồ Thị L1 thừa kế lại theo văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 14/7/2012, theo hồ sơ biến động số 000042 ngày 16/8/2012, hiện nay anh Nguyễn Quang S được thừa hưởng theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản có số công chứng 2161/2022/VBTTPCDSTK, quyển sổ 01/TP/CC-SCC/HĐGD. Bà Hồ Thị L1 chết không để lại di chúc và anh S con trai bà L1 là người duy nhất thừa hưởng di sản thừa kế của bà L1. Anh S có khai thực hiện nghĩa vụ trả cho hội phụ nữ 30.000.000 đồng và trả ngân hàng 200.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản anh S hưởng của mẹ anh theo kết quả định giá tài sản là 1.300.000.000 đồng. Sau khi đối trừ khoản nợ của mẹ anh thì anh vẫn còn được hưởng 1.100.000.000 đồng.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh Nguyễn Quang S phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại với số tiền nợ gốc 700.000.000đ của bà Hồ Thị L1 là phù hợp với quy định tại Điều 463; Điều 466; Điều 470, Điều 615 Bộ luật dân sự.
Ngoài ra, bà G còn yêu cầu anh Nguyễn Quang S phải trả số tiền lãi phát sinh từ ngày 01/01/2021 đến khi xét xử xong vụ án. Xét thấy: Trong giấy nhận nợ đề ngày 12/6/2019 không thể hiện bà G và bà L1 thỏa thuận về lãi suất, tuy nhiên thời hạn về hợp đồng vẫn còn, các bên không thống nhất được lãi suất nên HĐXX sơ thẩm buộc anh S phải chịu lãi suất 10%/01 năm của số tiền 700.000.000 đồng từ ngày 01/01/2021 đến ngày xét xử xong là phù hợp với quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015. Cụ thể: Từ 01/01/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm, số tiền lãi là: 700.000.000 đồng x 10%/01 năm x 3 năm 01 tháng = 215.810.000 đồng. Tổng cả gốc và lãi là 915.810.000 đồng (Chín trăm mười lăm triệu tám trăm mười nghìn đồng).
Như vậy, bản án sơ thẩm buộc bị đơn anh Nguyễn Quang S phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị G tổng số tiền cả gốc và lãi 915.810.000 đồng (Chín trăm mười lăm triệu tám trăm mười nghìn đồng) là có căn cứ.
Ngoài những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn anh Nguyễn Quang S không giao nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
Từ những căn cứ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Quang S, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không đượ chấp nhận, anh Nguyễn Quang S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử: Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Quang S. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS - ST ngày 01/2/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
2. Căn cứ Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Anh Nguyễn Quang S phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai 0005966 ngày 01/2/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Xác nhận anh S đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
3. Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đặng Văn Quyết |
Nguyễn Thị Hương Giang |
|
Phạm Thị Minh Hiền |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đặng Văn Quyết |
Nguyễn Thị Hương Giang |
|
Phạm Thị Minh Hiền |
Bản án số 132/2024/DS-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Số bản án: 132/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thực hiện nghĩa vụ
