Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2024/HSST

Ngày: 06 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Lan và ông Lương Minh Côn .

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thành Công – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 126/2024/TLST-HS ngày 08/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXX ngày 22/11/2024 đối với bị cáo:

Tô Thành H;

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1996;

Nơi cư trú: xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Không. Con ông: Tô Văn L, sinh năm 1964; con bà: Đào Thị M, sinh năm 1970. Bị cáo có 02 anh em, Huân con thứ 2 trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: 02.

  • + Tại Bản án số 75/2020/HSST ngày 30/9/2020 của Tóa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt H 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành án xong bản án ngày 01/01/2022.
  • + Tại Bản án số 1352022/HSST ngày 23/11/2022 của Tóa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đ). Tô Thành H đã chấp hành án xong bản án ngày 26/01/2024. Chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không

Nhân thân:

  • + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0012629 ngày 13/10/2019 của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
  • + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0138930 ngày 15/11/2019 của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Biện pháp ngăn chặn: Tô Thành H bị bắt tạm giam từ ngày 27/9/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh T.

(Có mặt tại phiên toà).

- Người bị hại:

Ông Đỗ Ngọc Đ, sinh năm 1977;

Nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1988;

Nơi thường trú: Thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi tạm trú: Xóm A, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tô Thành H là đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma túy. Khoảng 09 giờ 00 phút 25/9/2024, do không có tiền mua chất ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân nên H đã nảy sinh ý định tìm nhà ai có tài sản sơ hở để trộm cắp đem bán lấy tiền mua chất ma túy. Sau đó, H đi đến nhà anh Đỗ Thanh S1, sinh năm 1974 trú tại xóm T, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là người quen của H, trên đường vào nhà anh S1, H nhìn thấy nhà anh Đỗ Ngọc Đ, sinh năm 1977 (là em của anh S1 ở cùng xóm) mở cửa, không có người ở nhà nên H lén lút đi vào nhà anh Đ thì phát hiện thấy trên mặt bàn gỗ kê gần tường trong phòng khách nhà anh Đ có một chiếc túi xách bằng vải màu đen, H mở túi xách ra thì thấy có một chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu Dell, màu đen, H lấy máy tính cài vào cạp quần phía trước đang mặc, còn chiếc chuột có dây của máy tính H lấy cho vào túi quần dài bên phải rồi ra về. Sau khi trộm cắp được máy tính và chiếc chuột máy tính, H mang đến cửa hàng “Máy tính N" tại xóm A, xã P, huyện Đ bán cho anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1988, tạm trú tại xóm A, xã P, huyện Đ là chủ cửa hàng với giá 1.000.000 đồng. H đã mua chất ma tuý để sử dụng và chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản anh Đ đã làm đơn trình báo Công an xã N, huyện Đ. Tiến hành xác minh, truy xét, Công an xã N đã làm rõ Tô Thành H là người trộm cắp tài sản của gia đình anh Đ. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã N đã chuyển hồ sơ, đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 27/09/2024, anh Nguyễn Ngọc S đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, và 01 chiếc chuột máy tính nhãn hiệu B100.

Để có căn cứ xác định giá trị thiệt hại tài sản bị chiếm đoạt, ngày 01/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra Yêu cầu định giá tài sản số: 3010/YC - HS để yêu cầu Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện Đ định giá đối với tài sản là chiếc máy tính do Tô Thành H đã chiếm đoạt của anh Đ.

Tại Bản kết luận về định giá tài sản số: 36 ngày 04/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:

  • + Giá trị 01 máy tính xách tay nhãn DELL loại LATITUDE E5440 màu đen, mua mới tháng 7/2020; 01 chuột máy tính có dây màu đen có số sê ri 2130HS04XHC8, số mã sản phẩm 810-005640, mua kèm với máy tính xách tay trên, tài sản đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 9/2024 có giá 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Vật chứng của vụ án là chiếc máy tính và chuột máy tính, được Cơ quan điều tra Công an huyện Đ trả lại cho cho anh Đ quản lý, sử dụng.

Về phần trách nhiệm dân sự: Anh Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì đối với H, anh S yêu cầu H bồi thường 1.000.000đ. Hiện H chưa bồi thường cho anh S.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 129/CT - VKSĐT ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố Tô Thành H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Tô Thành H tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Tô Thành H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Hình phạt chính: Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 (tái phạm), Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Tô Thành H từ 24 tháng đến 28 tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị bắt 27/9/2024

* Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho người liên quan (anh S) số tiền 1.000.000đ.

Bị cáo, bị hại và liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận, đề nghị Toà án cho hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Thủ tục tố tụng:
    1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
    2. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đều vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trước đó đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
  2. Đánh giá về tội danh của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Tô Thành H giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Kết luận định giá tài sản; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

    Khoảng 09 giờ ngày 25/9/2024, lợi dụng gia đình anh Đỗ Ngọc Đ trú tại xóm T, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên sơ hở trong việc quản lý tài sản. Tô Thành H đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu đen và 01 chiếc chuột máy tính có dây nhãn hiệu B100 của gia đình anh Đ, giá trị tài sản được định giá có tổng trị giá 3.000.000đ, (Ba triệu đồng). Sau khi chiếm đoạt tài sản, H đem bán cho anh Nguyễn Ngọc S (chủ cửa hàng M1) được 1.000.000đ để sử dụng chất ma túy sử dụng và chi tiêu cá nhân hết.

    Chiếc máy tính đã được thu hồi và trả lại cho anh Đ quản lý, sử dụng. Riêng số tiền bị cáo chưa thực hiện hoàn trả cho anh S.

  3. Như vậy, bị cáo Tô Thành H thực hiện hành vi lén lút dịch chuyển tài sản của người bị hại một cách chót lọt, trong khi thực hiện không có đồng phạm khác tham gia. Do đó, hành vi, ý thức đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của tội “Trộm cắp tài sản”. Bản cáo trạng số: 129/CT-VKSĐT ngày 08/11/20242 của VKS nhân dân huyện Đ đã truy tố về tội danh và điều luật viện dẫn tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng luật.

    Cụ thể Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

    “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".

  4. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng thấy rằng:

    Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng sự thiếu cảnh giác trong quản lý tài sản của bị hại để thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đồng thời còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Do vậy, việc đưa ra xét xử là cần thiết, giáo dục bị cáo và nâng cao sự cảnh giác của người dân trong việc tự quản lý tài sản.

    Về nhân thân:

    Bị cáo có nhân thân quá xấu, liên tục bị đưa ra xét xử về các tội chiếm đoạt tài sản, cụ thể: Tại Bản án số 75 ngày 30/9/2020 của Tóa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyen, xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành án xong ngày 01/01/2022, chưa được xóa án tích; Tại Bản án số 135 ngày 23/11/2022, của Tóa án nhân dân huyện Đ xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đ). Bị cáo đã chấp hành án xong bản án ngày 26/01/2024. Trước đó, năm 2019 Tô Thành H liên tục bị Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Mặc dù bị cáo H đã chấp hành xong hình phạt tù và các nghĩa vụ khác của bản án nhưng chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự nên lần phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tạ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo H phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “tái phạm”.

  5. Về hình phạt cần áp dụng: Đánh giá tính chất vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có sức khỏe, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản, mục đích phục vụ cá nhân. Bị cáo cũng đã được giáo dục bằng pháp luật hình sự bị đưa ra xét xử về tội chiếm đoạt tài sản nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự một thời gian nhất định để răn đe riêng và phòng ngừa chung.
  6. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  7. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử vì vậy, được chấp nhận.
  8. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt đã được hoàn trả cho bị hại. Bị hại không yêu cầu thêm nên không xem xét.

    Người liên quan trong vụ án anh Nguyễn Ngọc S mặc dù vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, anh S không biết đây là tài sản do H trộm cắp mà có nên mua tài sản này, anh yêu cầu bị cáo H phải hoàn trả số tiền 1.000.000đ.

    Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường. Do đó, ghi nhận bị cáo có nghĩa vụ hoàn trả anh S 1.000.000đ.

  9. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
  10. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo TÔ THÀNH H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    1. Hình phạt chính: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52 (tái phạm), Điều 38 Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt: Bị cáo Tô Thành H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.

      Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 27/9/2024.

      Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo Tô Thành H 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

    2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
    • - Ghi nhận người bị hại anh Đ đã nhận lại tài sản (máy tính) không yêu cầu bồi thường dân sự.
    • - Ghi nhận bị cáo Tô Thành H có trách nhiệm hoàn trả cho anh Nguyễn Ngọc S số tiền 1.000.000đ (Bằng chữ: Một triệu đồng chẵn).

    Kể từ ngày Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh Nguyễn Ngọc S (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bị cáo H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Tô Thành H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự. Tổng cộng hai khoản là 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng nộp ngân sách Nhà nước.

  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo tại phiên tòa. Báo cho biết bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người bị hại (anh Đ), vắng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh S) tại phiên tòa. Báo cho biết những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, hợp lệ theo quy định./.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - VKS nhân dân huyện Đại Từ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; Trại tạm giam Công an tỉnh TN;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HSST ngày 06/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 133/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo trộm cắp máy tính trị giá 3.000.000đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger