Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2024/HS-ST

Ngày: 21/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Thúy

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Thành Hiếu
  2. Ông Trần Văn Em

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Văn Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thái Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 21/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ tên: Võ Đăng K, tên gọi khác: Lầu; giới tính: Nam.

Sinh năm 2003 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Nơi ở hiện tại: thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 8/12.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Cha: Võ Trọng K1, sinh năm 1979. Nghề nghiệp: Làm nông.

Hiện trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Mẹ: Phạm Thị T1, sinh năm 1987. Nghề nghiệp: Làm nông.

Hiện trú tại thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Võ Ngọc K2 hiện đang tại ngoại tại địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị hại: Anh Liêu Ngọc T2, sinh năm 2005

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Minh D, sinh năm 1973

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Thanh T3, sinh năm 2002

Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt đầy đủ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 06/02/2024, Võ Đăng K (L), sinh năm 2003, thường trú tại thôn T, xã H; chỗ ở tại thôn D, xã T, huyện H rủ bạn là Nguyễn Thanh T3, sinh năm 2002, trú tại thôn D, xã T đến nhà bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1957 (là bà ngoại của K) ở cùng thôn uống rượu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi cả hai đang ngồi nói chuyện thì nghe ngoài đường bê tông cách đó khoảng 30 mét có xe mô tô chạy với tiếng nổ lớn (nẹt pô). K nói với T3: “tôi với bạn ra đường xem ai mà chạy xe nẹt pô dữ vậy”, T3 đồng ý. Lúc này, K cùng T3 đi ra đường bê tông đứng khoảng 5-7 phút thì có xe mô tô (không rõ biển số) chạy đến. Trà vẫy tay ra hiệu dừng xe thì nhận ra người quen là Liêu Ngọc T2, sinh năm 2005, trú tại thôn P, xã H, huyện H. Trà nói với T2: “giờ này khuya mà em chạy xe nẹt pô dữ vậy?”, T2 trả lời: “mấy hôm xóm bên anh qua xóm em chạy xe nẹt pô có ai nói gì đâu”. K đứng cạnh đó nói với T2: “bên đó khác, bên đây khác, ở đây xóm này trẻ em, con nít nhiều chạy xe từ từ thôi, đừng nẹt pô”, T2 thách thức: “giờ mày thích đánh tao phải không?”, K trả lời: “mày thích thì bước xuống xe luôn đi”. Nghe vậy, T2 đẩy xe mô tô ngã vào người T3 (không gây thương tích) rồi lao vào K, cả hai ôm vật nhau ngã xuống đất. Trà đến can ngăn thì K chạy về nhà bà Đ lấy 01 con dao (dài 36,1cm, bản lưỡi dao rộng 7,2cm) để ở trước sân rồi quay lại vị trí T2 và T3 đang đứng. T2 nhìn thấy K thì xông đến dùng chân đạp vào bụng K, lúc này K dùng dao chém một nhát từ trên xuống về phía T2, T2 đưa tay phải lên đỡ làm trúng vào khuỷu tay phải gây thương tích. Thấy vậy, T3 la lớn, tiếp tục can ngăn đẩy T2 và K ra. Sau đó, T2 điều khiển xe về nhà mình, được người thân đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B.

Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 259/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 07/3/2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Liêu Ngọc T2 như sau:

Vết thương thấu khớp khuỷu tay phải làm gãy lồi cầu ngoài xương cánh tay phải, đứt gân duỗi cẳng tay phải đã được phẫu thuật điều trị; hiện hạn chế gấp – duỗi khớp khuỷu tay phải; để lại sẹo vết thương trùng sẹo vết mổ kích thước: (08 x 0,2) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 21% + 2%.

Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Liêu Ngọc T2 tại thời điểm giám định là 23% (hai ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Vết thương do vật sắc gây ra.

- Vết thương có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

Vật chứng trong vụ án:

01 con dao màu đen, dài 36,1 cm, bản rộng 7,2 cm, cán dao làm bằng sắt, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ra quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý.

Về dân sự:

Bị hại Liêu Ngọc T2 yêu cầu Võ Đăng K bồi thường chi phí điều trị thương tích theo hóa đơn, chứng từ số tiền 9.421.000 đồng; tiền mất thu nhập ngày công lao động người nuôi bệnh 3.300.000 đồng; tiền taxi và tiền thuốc mua ngoài 4.000.000 đồng. N đôi tổng số tiền trên (do phải phẩu thuật lần 2) là 33.442.000 đồng; tiền mất thu nhập ngày công lao động 350.000 đồng/ngày x 26 ngày x 10 tháng = 91.000.000 đồng; tiền bồi thường tổn thất tinh thần 40 tháng x 1.800.000 đồng = 72.000.000 đồng; tiền thuê người chăm sóc 300.000 đồng x 20 ngày = 6.000.000 đồng. Tổng số tiền yêu cầu bồi thường là 202.442.000 đồng, K đã bồi thường cho T2 số tiền 10.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 125/CT-VKSHTB ngày 14/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Võ Đăng K về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung tại cáo trạng số 125/CT-VKSHTB ngày 14/10/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

Về tội danh: Bị cáo Võ Đăng K phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; b, s khoản 1 Điều 51, đề nghị xử phạt bị cáo K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 01 con dao màu đen, dài 36,1 cm, bản rộng 7,2 cm, cán dao làm bằng sắt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 80.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được 10.000.000 đồng, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 70.000.000 đồng. Về hình phạt đề nghị xét xử theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã nêu. Bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo Võ Đăng K đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận giám định và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó xác định: Khoảng 22 giờ ngày 06/02/2024, tại thôn D, xã T, huyện H, do khó chịu việc bị hại chạy xe nẹt bô giữa đêm khuya làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của mọi người nên bị cáo cùng với anh Nguyễn Thanh T3 đã ra trước đường chặn xe của bị hại với mục đích yêu cầu bị hại không nẹt bô nữa. Sau khi hai bên lời qua tiếng lại, do không kìm chế được bản thân nên bị cáo và bị hại có xảy ra đánh nhau và được anh T3 can ngăn. Do bị cáo bị bị hại đánh đau nên bực tức và chạy vào nhà lấy dao ra nhằm chém bị hại. Sau khi cầm dao ra, bị cáo đã chém bị hại T2 một nhát trúng vào khuỷu tay phải gây thương tích với lệ tổn thương cơ thể qua giám định là 23%.

Hành vi của bị cáo Võ Đăng K sử dụng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại T2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể qua giám định là 23%, đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Đối với lời khai của bị hại T2 cho rằng khi đang chạy trên đường, bị hại đã thấy T3 và bị cáo đứng giữa đường, T3 đứng phía trước ngăn không cho bị hại chạy xe, bị cáo K đứng phía sau tay cầm dao, bị hại vừa dừng xe lại đã đã bị K lao tới chém gây thương tích. Mặc dù lời khai hai bên không thống nhất về sự việc xảy ra lúc ban đầu, tuy nhiên, tại phiên tòa, bị hại T2 thừa nhận, sau khi bị K chém, anh T3 có đề nghị để anh chở bị hại T2 về nhà nhưng bị hại không đồng ý và tự chạy xe về. Điều đó chứng tỏ giữa anh T3 và T2 không có mâu thuẫn với nhau, anh T3 và bị cáo cũng xác định việc đứng chặn xe bị hại ban đầu chỉ nhằm mục đích để yêu cầu bị hại T2 không tiếp tục nẹt bô gây ồn ào giữa đêm khuya, anh T3 không bàn bạc từ trước với bị cáo Võ Đăng K về việc gây thương tích cho bị hại, khi xảy ra mâu thuẫn xô xát, Trà đã can ngăn, không tham gia gây thương tích và không có hành vi giúp sức cho bị cáo gây thương tích cho bị hại nên không đồng phạm với K về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[3]. Bị cáo Võ Đăng K đã thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, nên cần phải xử phạt nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 con dao màu đen, dài 36,1 cm, bản rộng 7,2 cm, cán dao làm bằng sắt do không còn giá trị sử dụng.

[6]. Về bồi thường dân sự:

Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 80.000.000 đồng, bị cáo cũng thống nhất số tiền này. Bị cáo đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng nên phải tiếp tục bồi thường số tiền 70.000.000 đồng cho bị hại.

[7]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Đăng K phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1; Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Võ Đăng K 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao màu đen, dài 36,1 cm, bản rộng 7,2 cm, cán dao làm bằng sắt.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.

Về bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 590 Bộ luật dân sự

Bị cáo Võ Đăng K phải bồi thường cho bị hại Liêu Ngọc T2 số tiền 80.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo Võ Đăng K còn phải bồi thường số tiền 70.000.000 đồng cho bị hại Liêu Ngọc T2.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (21/11/2024).

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKS nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan THA hình sự CA Hàm Thuận Bắc;
  • - CQ CSĐT CA Hàm Thuận Bắc;
  • - Nhà tạm giữ CA Hàm Thuận Bắc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thu Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý gây thương tích (hình sự)

  • Số bản án: 132/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Đăng Khôi phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger