|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 132/2024/KDTM-ST Ngày 13-11-2024 V/v tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chính |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Phùng;
Bà Nguyễn Thị Cờ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga- Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, TP Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa: Bà Phạm Hà Thanh- Kiểm sát viên.
Ngày 13/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 54/2024/TLST-KDTM ngày 12/4/2024 về Tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chính theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 358/2024/QĐXX-ST ngày 02/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 343 ngày 21/10/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty C - Ngân hàng N2; Địa chỉ trụ sở: Số D phố P, phường K, quận Đ, Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Ông Dương Thanh S- Tổng Giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T (theo Quyết định số 39/QĐ-ALCI-HCNS ngày 10/10/2024), bà Đặng Mai P (theo Giấy ủy quyền số 287/ALCI-HCHS ngày 12/11/2024).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Phạm Thị T1- Công ty L và cộng sự.
Bị đơn: Công ty Cổ phần Q; Địa chỉ trụ sở: Số B, Tòa nhà A L, phường L, quận Đ, Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Thanh N- Giám đốc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/6/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn Công ty C - Ngân hàng N2 trình bày:
Ngày 20/02/2003 Công ty C - Ngân hàng N2 (sau đây gọi tắt là Công ty A) đã ký Hợp đồng cho thuê tài chính số: 62/2003/ALCI với Công ty Cổ phần Q (sau đây gọi tắt là Công ty Q), nội dung Hợp đồng như sau:
- Tài sản cho thuê là 01 ô tô Mercedes E240.
- Tổng giá trị tài sản cho thuê: 1.196.823.760 đồng.
- Tiền đặt cọc: 351.986.400 đồng.
- Thời hạn thuê: 24 kì, số ngày trong kỳ: 90 ngày.
- Ngày nhận nợ: 20/02/2003. Ngày trả nợ cuối cùng: 19/01/2009.
- Lãi suất khi cho thuê: 0,85%/tháng; Lãi suất cho thuê được áp dụng lãi suất có điều chỉnh theo kỳ, mức lãi suất cụ thể tại thời điểm điều chỉnh thực hiện theo thông báo của Công ty A (trường hợp để phát sinh nợ quá hạn, lãi phạt quá hạn bằng 150% lãi suất cho thuê trong hạn).
- Mục đích sử dụng tài sản thuê là để phục vụ cho hoạt động kinh doanh hợp pháp của Công ty Q.
Tại Hợp đồng cho thuê tài chính nói trên đã quy định:
- Công ty Q cam kết thanh toán tiền thuê cho Công ty A đầy đủ, đúng hạn theo lịch thanh toán cụ thể được quy định tại phụ lục 4B/ALCI. Công ty A có quyền chấm dứt Hợp đồng cho thuê tài chính trước hạn khi Công ty Q vi phạm: Không trả tiền thuê theo quy định cho Hợp đồng cho thuê tài chính, vi phạm các điều khoản của Hợp đồng cho thuê tài chính, bị phá sản, giải thể hoặc mất khả năng thanh toán... Công ty A có toàn quyền thu hồi ngay lập tức tài sản cho thuê và yêu cầu Công ty Q phải thanh toán ngay toàn bộ số tiền thuê chưa trả theo Hợp đồng cho thuê tài chính.
- Quyền sở hữu tài sản luôn thuộc về Công ty C- Ngân hàng N2 (ALCI) trong suốt thời hạn thuê và không bị ảnh hưởng trong bất kỳ trường hợp nào khi Công ty Q phá sản, giải thể, mất khả năng thanh toán.
- Trong quá trình thực hiện Hợp đồng cho thuê tài chính nêu trên, Công ty Q đã luôn vi phạm Hợp đồng cho thuê tài chính, không trả nợ tiền thuê theo quy định trong Hợp đồng cho thuê tài chính, để phát sinh nợ quá hạn lớn và kéo dài. Mặc dù Công ty A thường xuyên làm việc đôn đốc bằng văn bản, Công ty Q đã cam kết, hứa hẹn trả nợ tiền thuê tài chính đến hạn, quá hạn, nhưng sau đó đã không thực hiện được, vi phạm khoản 1 Điều 7 "Thanh toán tiền thuê".
Đại diện Công ty A đã rất nhiều lần trực tiếp xuống trụ sở khách hàng thuê làm việc và gửi văn bản yêu cầu thanh toán dứt điểm nợ tồn đọng, thực hiện các nghĩa vụ của Hợp đồng cho thuê tài chính trên nhưng Công ty Q vẫn không thực hiện. Ngày 02/8/2007 Công ty A đã gửi đơn tố cáo đến Công an quận B, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an quận B. Ngày 17/01/2008 Công ty A đã gửi đơn tố cáo đến Công an quận B, Công an tỉnh Q. Ngày 21/3/2008 Công ty A tiếp tục gửi đơn tố cáo đến Công an phường T, Công an thị xã M, Công an tỉnh Q. Ngày 06/04/2008 Công ty A đã gửi đơn tố cáo đến C15 Bộ C1 đề nghị giúp đỡ thu hồi tài sản thuê tài chính. Ngày 23/5/2012 Công ty A ra Quyết định số 06/QĐ-CTTCI thu hồi tài sản thuê tài chính của Công ty Q. Cho đến nay Công ty Q vẫn không hợp tác làm việc, không trả nợ, không bàn giao tài sản cho Công ty A.
Vì vậy Công ty A khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc Công ty Q phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty A toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày 09/7/2024 là: 1.456.393.314 đồng. Trong đó:
- Nợ gốc: 381.284.727 đồng.
- Nợ lãi trong hạn: 46.492.511 đồng.
- Nợ lãi quá hạn: 1.028.616.076 đồng.
- Buộc Công ty Q phải trả gốc, lãi, lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho thuê tài chính kể từ sau ngày 09/7/2024 cho đến ngày Công ty Q trả hết các khoản nợ gốc, lãi cho Công ty A.
- Nếu Công ty Q không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Công ty A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản cho thuê tài chính là 01 xe ô tô Mercedes Benz E240, biển kiểm soát 29S-6776 và bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty Q để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Lời khai của bị đơn:
Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo pháp luật của Công ty Q là ông Vũ Thanh N đã không đến Tòa án làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
- Đại diện nguyên đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn thống nhất trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án tuyên buộc Công ty Q phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty A theo Hợp đồng cho thuê tài chính số: 62/2003/ALCI ngày 20/02/2003, toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày 13/11/2024 là: 1.478.183.733 đồng.
Trong đó:
- Nợ gốc: 381.284.727 đồng.
- Nợ lãi trong hạn: 46.492.508 đồng.
- Nợ lãi quá hạn: 1.050.406.498 đồng.
Công ty Q phải tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 14/11/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ và xử lý tài sản cho thuê tài chính cũng như tài sản khác của Công ty Q để thu hồi nợ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng quyền hạn, nhiệm vụ của mình theo quy định của Bộ luật TTDS về phiên tòa sơ thẩm. Các quy định về phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng đều được HĐXX thực hiện theo đúng quy định tại Chương 14 BLTTDS.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70,71,234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty Q phải thanh toán trả cho Công ty A số tiền nợ tính đến ngày 13/11/2024 là 1.478.183.733 đồng, Công ty A phải tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 14/11/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp Công ty Q không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty A có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản cho thuê theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Công ty Q phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp cùng các tài liệu Tòa án thu thập được xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại tranh chấp về Hợp đồng cho thuê tài chính. Công ty Cổ phần Q có đăng ký kinh doanh tại địa chỉ: Số B, Tòa nhà A L, phường L, quận Đ, Hà Nội. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Công ty Cổ phần Q đã được Tòa án tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đại diện bị đơn.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu thanh toán số tiền nợ gốc, lãi:
Ngày 20/02/2003 Công ty A đã ký Hợp đồng cho thuê tài chính số: 62/2003/ALCI với Công ty Q, nội dung Hợp đồng như sau:
- Tài sản cho thuê là 01 ô tô Mercedes E240.
- Tổng giá trị tài sản cho thuê: 1.196.823.760 đồng.
- Tiền đặt cọc: 351.986.400 đồng.
- Thời hạn thuê: 24 kì, số ngày trong kỳ: 90 ngày.
- Ngày nhận nợ: 20/02/2003. Ngày trả nợ cuối cùng: 19/01/2009.
- Lãi suất khi cho thuê: 0,85%/tháng tính bằng 30 ngày (theo phụ lục 4D/ALCI lãi suất cho thuê cố định 0,9%/tháng).
- Mục đích sử dụng tài sản thuê là để phục vụ cho hoạt động kinh doanh hợp pháp của Công ty Q.
Xét Hợp đồng cho thuê tài chính số 62/2003/ALCI ngày 20/02/2003 được các bên tự nguyện tham gia giao kết Hợp đồng, người ký có thẩm quyền, nội dung và mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đã được các bên thực hiện, bên cho thuê đã bàn giao tài sản cho thuê, các thỏa thuận về hình thức thuê tài chính, mục đích sử dụng tài sản thuê, mức lãi suất trong hạn, quá hạn và các thỏa thuận khác đều phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, có đủ căn cứ khẳng định Hợp đồng cho thuê tài chính trên là hợp pháp và có giá trị thực hiện đối với Công ty A và Công ty Q. Tính đến ngày 13/11/2024 Công ty Q đã trả số tiền nợ gốc là 815.539.033 đồng, lãi trong hạn đã trả là 267.563.101 đồng và lãi quá hạn đã trả là 22.629.285 đồng. Công ty Q còn nợ Công ty A tổng số tiền là 1.478.183.733 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 381.284.727 đồng, N1 lãi trong hạn: 46.492.508 đồng, N1 lãi quá hạn: 1.050.406.498 đồng.
[2.2] Về yêu cầu xử lý tài sản cho thuê:
Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz E240, biển kiểm soát 29S-6776 theo giấy Đăng ký xe ô tô số A0094280 do Phòng C2 Công an thành phố H cấp ngày 03/03/2003 mang tên chủ sở hữu Công ty C3- Ngân hàng N2. Công ty Q trực tiếp quản lý, sử dụng theo thỏa thuận tại Điều 11 của Hợp đồng cho thuê tài chính. Tòa án đã ra Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản cho thuê và đã yêu cầu Công ty Q giao nộp tài sản cho thuê để Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định. Thông báo giao nộp tài sản cho thuê đã được niêm yết tống đạt hợp lệ cho Công ty Q nhưng Công ty Q không thực hiện nên Tòa án không thể tiến hành được việc xem xét, thẩm định và không xác định được tình trạng hiện tại của tài sản cho thuê.
Theo quy định tại Điều 15 Hợp đồng cho thuê tài chính, các bên có thỏa thuận về việc xử lý tài sản cho thuê trong trường hợp Hợp đồng chấm dứt trước hạn do bên B không trả tiền thuê theo quy định trong Hợp đồng. Bên A gửi văn bản yêu cầu bên B trong thời hạn 30 ngày phải thanh toán toàn bộ số tiền thuê (cả gốc và lãi) còn phải trả theo quy định trong hợp đồng cho thuê và các khoản phải trả khác (nếu có). Quá thời hạn trên nếu bên B không thanh toán đủ, bên A sẽ thu hồi tài sản thuê và bên B phải bồi thường các khoản thiệt hại.
Do Công ty Q vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho thuê tài chính nên Công ty A có quyền thu hồi tài sản cho thuê theo quy định của Hợp đồng và có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thu hồi tài sản cho thuê theo quy định của pháp luật. Về tình trạng và giá trị của tài sản thế chấp được xác định tại thời điểm thu hồi.
[2.3] Về khoản tiền đặt cọc:
Căn cứ Điều 8 Hợp đồng cho thuê tài chính và Phụ lục 4D/ALCI kèm theo Hợp đồng, Công ty Q đặt cọc số tiền 351.986.400 đồng dùng để đảm bảo thực hiện Hợp đồng cho thuê tài chính. Tất cả số tiền trên đã được Công ty A trừ ngay vào tổng số tiền cho thuê khi Công ty Q ký phụ lục 4B/ALCI là phù hợp với quy định tại Hợp đồng cho thuê tài chính.
Quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo pháp luật của Công ty Q không đến Tòa án làm việc, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không xuất trình tài sản cho thuê để Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, không đến tham gia phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để làm rõ và hòa giải các nội dung liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kết quả xác minh tại địa phương nơi Công ty Q đóng trụ sở thể hiện: Công ty Q không còn hoạt động tại địa chỉ P, Tòa nhà A L, phường L, quận Đ, Hà Nội. Đối với ông Vũ Thanh N là đại diện theo pháp luật của Công ty Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ A B tập thể K, phường K, quận Đ, Hà Nội nhưng không cư trú tại địa chỉ trên mà đăng ký tạm trú tại Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Xác minh tại Công an thị trấn T, ông Vũ Thanh N không đăng ký hộ khẩu thường trú, không đăng ký tạm trú cũng như không cư trú trên địa bàn thị trấn T. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho Công ty Q theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc bị đơn không còn hoạt động tại nơi đăng ký kinh doanh mà không thông báo với nguyên đơn, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, không đưa ra các chứng cứ về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình và phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ Điều 62 Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, buộc Công ty Q phải trả cho Công ty ALCI toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi chưa trả của Hợp đồng cho thuê tài chính trên.
[3] Về án phí: Công ty Q phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho Công ty A là 56.345.512 đồng. Công ty A được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp do yêu cầu khởi kiện được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 61; Điều 62; Điều 63 Luật các tổ chức tín dụng năm 1997;
- Căn cứ Nghị định 16/2001-CP của Chính phủ ngày 02/5/2001 ban hành quy chế về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam và Thông tư 08/NHNN ngày 06/9/2001 của Ngân hàng N3 hướng dẫn thi hành;
- Căn cứ khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C - Ngân hàng N2 đối với Công ty Cổ phần Q.
- Buộc Công ty Cổ phần Q có nghĩa vụ thanh toán trả Công ty C - Ngân hàng N2 tổng số tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng cho thuê tài chính số 62/2003/ALCI ngày 20/02/2003 và các Phụ lục Hợp đồng, tính đến ngày 13/11/2024 là 1.478.183.733 đồng. Trong đó:
- Nợ gốc: 381.284.727 đồng.
- Nợ lãi trong hạn: 46.492.508 đồng.
- Nợ lãi quá hạn: 1.050.406.498 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty Cổ phần Q còn tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho thuê tài chính và phụ lục Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
2. Trường hợp Công ty Cổ phần Q không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nêu trên thì Công ty C - Ngân hàng N2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thu hồi tài sản cho thuê là xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz E240, biển kiểm soát 29S-6776 theo giấy Đăng ký xe ô tô số A0094280 do Phòng C2 Công an thành phố H cấp ngày 03/03/2003 mang tên chủ sở hữu Công ty C3- Ngân hàng N2.
Trường hợp không thu hồi được tài sản cho thuê hoặc thu hồi được tài sản cho thuê nhưng số tiền thu được từ việc xử lý tài sản cho thuê không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty C - Ngân hàng N2 thì Công ty C - Ngân hàng N2 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xác minh, xử lý nguồn thu nhập, tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của Công ty Cổ phần Q để thu hồi nợ theo quy định của Luật Thi hành án Dân sự.
3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Công ty Cổ phần Q phải nộp 56.345.512 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Công ty C - Ngân hàng N2 được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí là 25.500.000 đồng theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí số 1090141 ngày 02/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, Hà Nội.
4. Về quyền kháng cáo: Công ty C - Ngân hàng N2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty Cổ phần Q vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thúy |
Bản án số 132/2024/KDTM-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
- Số bản án: 132/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chính
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án
