|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2024/HS-ST |
|
|
Ngày: 13/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hữu Lượng
- Ông Ma Quốc Thể
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.
Ngày 13/11/2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 127/2024/TLST-HS, ngày 11/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Phan Văn P, sinh ngày 02/8/1978 tại xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ĐKHK, chỗ ở: Thôn L, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; giới tính: Nam; dân tộc: Cao Lan; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Đức T (Phan Văn T1), sinh năm 1951, con bà Lý Thị B, sinh năm 1954; vợ: Trần Thị H, sinh năm 1980, con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Gia đình có 02 anh em: Bị cáo là con thứ hai;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị H, sinh năm 1980; Nơi ĐKHK, chỗ ở: Thôn L, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 14/8/2024, Phan Văn P là người sử dụng chất ma túy một mình điều khiển xe đạp điện không có biển số (xe của Trần Thị H là vợ P) từ nhà đến khu vực xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. P gặp và mua được 02 gói ma túy (loại Heroine) được gói bằng giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng của một người đàn ông không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, với số tiền 200.000đ. Trên đường về đến khu vực vắng người thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, P lấy một phần trong 01 gói ma túy vừa mua được ra sử dụng bằng cách đốt hít vào cơ thể, số ma túy còn lại gói lại cất giấu trong túi quần đang mặc trên người. Khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện S thì bị Tổ công tác Công an xã Đ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 13 giờ 45 phút cùng ngày, thu giữ trên người P 02 gói ma túy được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu vàng.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy bên trong cơ thể Phan Văn P, kết quả (+) dương tính với ma túy.
Kết luận giám định số 1113/KL - KTHS ngày 19/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T. Kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng có trong 02 gói thu giữ của Phan Văn P gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có tên khoa học là D; khối lượng 0,214 gam (không phẩy hai một bốn gam)
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S thu giữ 02 gói ma túy được niêm phong trong 01 phong bì (đã giám định ngày 14/8/2024) của Phan Văn P; 01 chiếc xe đạp điện không có biển số, nhãn hiệu New Style XS 133 COOL, màu đỏ đen.
Tại Cáo trạng số 131/CT-VKSSD, ngày 10/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Phan Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Phan Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (14/8/2024).
Do bị cáo không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Phan Văn P các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; trả lại chị Trần Thị H 01 chiếc xe đạp điện không có biển số, nhãn hiệu New Style XS 133 COOL, màu đỏ đen.
Về án phí HSST, quyền kháng cáo: Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên đề nghị miễn 100% án phí hình sự sơ thẩm; và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 45 phút, ngày 14/8/2024, tại thôn Đ, xã Đ, huyện S, Phan Văn P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,214gam (không phẩy hai một bốn gam) Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Phan Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần áp dụng cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị như vậy là phù hợp.
Quá trình điều tra xác định bị cáo Phan Văn P không có nghề nghiệp ổn định, gia đình thuộc diện hộ nghèo, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Phan Văn P, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe đạp điện không có biển số, nhãn hiệu New Style XS 133 COOL, màu đỏ đen của chị Trần Thị H, chị H không biết việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma túy, nên trả lại cho chị H.
[5] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Phan Văn P vào ngày 14/8/2024 Công an huyện S đã xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 227 ngày 06/9/2024, xử phạt Cảnh cáo.
Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn P và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Về án phí HSST: Tại phiên tòa bị cáo có đơn xin miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. HĐXX chấp nhận miễn 100% án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (14/8/2024).
2. Về vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Phan Văn P; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Phan Văn P giám định ngày 14/8/2024".
Trả lại chị Trần Thị H 01 chiếc xe đạp điện không có biển số, nhãn hiệu New Style XS 133 COOL, màu đỏ đen.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Miễn 100% án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Văn P;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án (đối với phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình) trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Hữu Lượng - Ma Quốc Thể |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Thị Minh Khánh |
Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 132/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 13 giờ 45 phút, ngày 14/8/2024, tại thôn Đ, xã Đ, huyện S, Phan Văn P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,214gam (không phẩy hai một bốn gam) Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
