Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 132/2024/HSST

Ngày 17-10 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Quốc Vũ, bà Đỗ Thị Liên.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: ông Đinh Huy Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2024/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXX-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, đối với:

- Bị cáo Đặng Đại C, sinh năm 2002; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Thôn L, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T và bà Lương Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 07/7/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, chấp hành xong ngày 26/4/2022; bị bắt tạm giữ ngày 27/01/2024, chuyển tạm giam ngày 02/2/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Chu Thị Lệ Q, sinh năm 2006; địa chỉ: Thôn L, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt.
  • + Chị Tạ Thị K, sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; chỗ ở: Tổ dân phố số D, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • + Anh Đặng Văn T1, sinh năm 1989 và chị Trần Thị T2, sinh năm 1994; cùng địa chỉ: Thôn L, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • + Anh Trần Công L, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • + Bà Đỗ Thị L1, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ E, phố P, thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
  • - Người làm chứng: Anh Lại Văn Q1, sinh năm 1991; vắng mặt.
  • - Người chứng kiến: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1952; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 26/01/2024, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh H đang làm nhiệm vụ trên đoạn đường trong Khu Công nghiệp H thuộc tổ dân phố số C, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam thì phát hiện có hai nam thanh niên chở nhau đi xe máy có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra thì nam thanh niên cầm lái đã phóng xe bỏ chạy, còn nam thanh niên ngồi phía sau bị tổ công tác giữ lại. Lúc này nam thanh niên bị giữ lại đã ném từ tay xuống lòng đường ngay vị trí bị giữ nhiều túi nilon màu đen và 02 tờ tiền mỗi tờ mệnh giá 100.000đ. Tại chỗ người này khai tên là Đặng Đại C, sinh năm 2002, trú tại thôn L, xã M, thị xã D, đồng thời khai nhận các túi nilon màu đen C vừa ném xuống mặt đường bên trong chứa các viên ma túy dạng kẹo, 02 tờ tiền mỗi tờ mệnh giá 100.000đ là tiền công được người nhờ mang số ma túy trên trả công cho C. Tổ công tác đã tiến hành đưa Đặng Văn C1 cùng vật chứng về trụ sở Công an phường H, thị xã D để tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.

* Vật chứng thu giữ gồm:

  • - Thu trên mặt đường chỗ Đặng Đại C đứng 08 túi nilon đều màu đen, loại túi zip được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01 (gồm: 03 túi nilon bên trong đều có 02 viên nén không rõ hình, màu hồng; 01 túi nilon bên trong có 02 viên nén không rõ hình, màu hồng và chất bột màu xám; 01 túi nilon bên trong có 03 viên nén không rõ hình, màu hồng; 01 túi nilon bên trong có 01 viên nén không rõ hình, màu hồng và 01 viên nén không rõ hình, màu xám; 01 túi nilon bên trong có 01 viên nén không rõ hình, màu hồng và chất bột màu xám; 01 túi nilon bên trong có 01 viên nén không rõ hình, màu hồng và chất bột màu hồng) và 02 tờ tiền mệnh giá 100.000đ được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02;
  • - T3 trong túi áo khoác Đặng Đại C đang mặc 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, mặt sau đã bị nứt vỡ được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT03.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Đặng Đại C tại thôn L, xã M, thị xã D. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H không thu giữ tài liệu, đồ vật gì có liên quan.

Tại Bản kết luận giám định số 130/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:

  • “- Mẫu viên nén màu hồng và chất bột màu hồng trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 5,688g, loại: MDMA.
  • - Mẫu viên nén màu xám và chất bột màu xám trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,570g, loại: MDMA.”

Về nguồn gốc số ma túy, Đặng Đại C khai nhận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 26/01/2024, khi C đang ở nhà tại thôn L, xã M, thị xã D thì có nam thanh niên (Cao chỉ biết tên là Bính nhà ở xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam, không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể) gọi cho Cao qua ứng dụng mạng xã hội M và nói “Bạn lấy hộ tôi mười lăm viên kẹo”, Cao hiểu ý B muốn hỏi mua của Cao 15 viên ma túy kẹo, nên C đồng ý bán với giá 6.000.000đ và hẹn B ra đường trong khu Công nghiệp H, phường H, thị xã D để giao dịch. Do lúc đó tài khoản ngân hàng của C không còn tiền nên C bảo B chuyển trước 6.000.000đ tiền mua ma túy cho C. Cao nói tiếp với B “Nếu lấy hộ thế này thì tôi không được cái gì, bạn cho tôi hai trăm tiền đi lại” ý của C muốn B trả thêm cho C 200.000đ tiền công xăng xe đi mua ma túy, B hiểu ý của C nên đồng ý. Sau đó B chuyển khoản số tiền 6.000.000đ cho C vào tài khoản số 9999999998359 mở tại ngân hàng M1 là tài khoản ngân hàng của chị Chu Thị Lệ Q sinh năm 2006, trú tại thôn L, xã T, thị xã D là bạn gái của C hiện C đang sử dụng số tài khoản này. Sau đó C sử dụng số điện thoại 0399.294.xxx của mình gọi điện cho một người đàn ông không quen biết tên tuổi địa chỉ cụ thể qua số điện thoại 0584.068.xxx. Khi người đàn ông đó nghe máy thì C hỏi mua của người đàn ông đó 15 (mười lăm) viên ma túy kẹo thì người đàn ông đó đồng ý và báo giá 6.000.000đ, thì C đồng ý và người đàn ông đó hẹn C ra cổng chợ H1 để giao dịch. C gọi điện cho Trần Công L, sinh năm 2000 trú tại tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D là bạn của C đến đón, khi đó C chỉ nói với L đón để đi uống nước. Một lúc sau L điều khiển xe đến và chở C đi ra chợ H1 như đã hẹn. Khi đi đến khu vực cuối chợ H1 thì C gọi điện lại cho người đàn ông đó báo đã đến nơi rồi, thì người người đàn ông đó bảo C để tiền ở chỗ cổng sau chợ H1 rồi đi lên một đoạn thấy túi nilon màu đen ở giữa đường thì nhặt. Cao để số tiền 6.000.000đồng ở cạnh cổng chợ như người đàn ông đó đã chỉ rồi đi lên một đoạn thì thấy ở giữa đường có nhiều túi nilon màu đen, C biết bên trong túi nilon màu đen đó có chứa ma túy kẹo mà trước đó C đã hỏi mua của người đàn ông nên C đã nhặt lên và cầm ở lòng bàn tay phải của mình và bảo L chở ra chỗ hẹn với B. Khi L vừa chở C đến đoạn đường trong khu công nghiệp H thuộc phường H, thị xã D thì gặp B và B đưa cho C số tiền 200.000đ tiền công đi lại mua ma túy cho B. C cầm tiền mà B đưa nhưng chưa kịp đưa lại ma túy cho B thì bị lực lượng Công an kiểm tra, thấy vậy L và B đã điều khiển xe bỏ chạy còn C bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Cáo trạng số 131/CT-VKS- DT ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đặng Đại C từ 07(Bẩy) năm 06(Sáu) tháng đến 08(T4) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 27/01/2024.

Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000đ(Năm triệu) đến 7.000.000đ(Bẩy triệu) đồng.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt ngoài ra không tranh luận gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử(HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 26/01/2024, tại Tổ dân phố số C, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Đặng Đại C có hành vi bán trái phép 7,258 gam ma túy MDMA cho một người đàn ông tên là B với số tiền 6.200.000đồng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
  • + Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị cáo đang là lao động chính của gia đình (Có xác nhận của chính quyền địa phương), tại phiên tòa gia đình bị cáo cung cấp chưa đầy đủ về việc bà Hà Thị T5 là bà nội của bị cáo được tặng kỷ niệm chương chiến sỹ trường sơn đường H, kỷ niệm chương thanh niên xung phong mà chỉ cung cấp quyết định trợ cấp một lần đối với thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến, tuy nhiên nội dung này đã được ghi nhận trong bản án số 31/2021/HS- PT ngày 07/7/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam nên cần ghi nhận cho bị cáo. Đối chiếu

với quy định của pháp luật bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Bị cáo Đặng Đại C phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng vì thế cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra cho xã hội cũng như nhân thân, hoàn cảnh gia đình bị cáo, HĐXX xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Về các tình tiết khác:

  • - Đối với chị Tạ Thị K là chủ số tài khoản đã chuyển số tiền 6.000.000đồng cho Đặng Đại C, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã tiến hành xác minh, xác định chị K đang có cửa hàng kinh doanh mua bán, sửa chữa điện thoại tại tổ dân phố số D, phường H, thị xã D và có dịch vụ chuyển tiền, ngày 26/01/2024, chị được một nam thanh niên không xác định được tên tuổi, địa chỉ đến cửa hàng nhờ chị K chuyển số tiền trên, chị đã chuyển khoản số tiền 6.000.000đồng và lấy phí là 30.000 đồng, bản thân chị K không biết số tiền đó liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý.
  • - Đối với nam thanh niên tên B đã mua ma túy của C như C đã khai; do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, ngoài ra không còn thông tin, tài liệu gì khác để chứng minh nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
  • - Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho C, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D xác định số điện thoại 0584.068.xxx mang tên bà Đỗ Thị L1 sinh năm 1959, trú tại tổ E phố P, thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình, bà L1 không sử dụng số điện thoại này và không cho ai mượn căn cước công dân để đăng ký số điện thoại, bà L1 không biết ai tên Đặng Đại C. Do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, ngoài ra không còn thông tin, tài liệu gì khác để chứng minh nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
  • - Đối với chị Chu Thị Lệ Q là chủ số tài khoản 9999999998359 mở tại ngân hàng M1, tuy nhiên chị Q đã đưa cho Đặng Đại C sử dụng số tài khoản này, chị Q không biết biệc C sử dụng số tài khoản này vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý.
  • - Đối với anh Trần Công L có hành vi chở bị cáo Cao ra cổng sau chợ H1 để lấy ma túy, sau đó chở C ra khu công nghiệp H để gặp B. Quá trình điều tra Đặng Đại C khai nhận chỉ nói với L chở đi để uống nước, không có mục đích gì khác. Anh L2 cũng khẳng định Cao nhờ chở ra khu công nghiệp H để lấy tiền trả nợ và đi ăn đêm, không biết gì về hành vi phạm tội của bị cáo C nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xác minh, làm rõ đối với hành vi của Trần Công L.

[6] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 phong bì niêm phong có số 130/KTHS và dấu giáp lai của Phòng K1- Công an tỉnh H là vật chứng cấm lưu hành cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu đen, đã bị vỡ mặt sau phía trên, có IMEIL 356114090600569 bên trong có một sim điện thoại . Quá trình điều tra xác định bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua bán, giao dịch ma túy ngày 26/01/2024 và số tiền 200.000₫ là số tiền mà bị cáo Cao chiếm hưởng được trong việc bán ma túy cho B1 nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự khác thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự.

Căn cứ: Điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đặng Đại C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Đặng Đại C 07(Bẩy) năm 06(S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2024.

- Phạt tiền bị cáo Đặng Đại C với số tiền 5.000.000đ(Năm triệu) đồng sung ngân sách nhà nước.

2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có số 130/KTHS và dấu giáp lai của Phòng K1- Công an tỉnh H.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu đen, đã bị vỡ mặt sau phía trên, có IMEIL 356114090600569 bên trong có một sim điện thoại và số tiền 200.000 đồng.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã D và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 03/10/2024)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị cáo Đặng Đại C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TX Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Cơ quan THAHS Công an TX Duy Tiên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HSST ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - TỈNH HÀ NAM về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 132/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Đại C phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger