|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2024/HS-ST Ngày 30/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thị Anh;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Kim Minh;
Bà Vũ Thị Hòa;
Thư ký phiên toà: Ông Phùng Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2024/TLST- HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/HSST-QĐ ngày 23/9/2024 đối với bị cáo:
Phùng Văn H; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 06/9/1993 tại K, Thái Bình. Nơi cư trú: Tổ I, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi ở: Số A, đường B, tổ I, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động Tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Văn H1 (đã chết) và bà Đinh Thị M (đã chết); Tiền án: 01: Bản án số 20/2020/HSST ngày 04/5/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đến nay chưa được xóa án tích; Tiền sự: 01 (Tại Quyết định số 90/QĐ-CT-UBND ngày 22/5/2019 của Công an thành phố L phạt tiền 2.500.000 đồng đối với Phùng Văn H về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”) đến nay chưa được xóa tiền sự; Bị cáo chưa có vợ, con; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/5/2024. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Chị Trần Thị H2 - Địa chỉ: Thôn N, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- 2. Chị Nguyễn Thị L - Địa chỉ: Thôn N, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- 3. Nguyễn Thị Thúy H3 - Địa chỉ: Thôn N, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- 4. Chị Hoàng Thị Q - Địa chỉ: Tổ B, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- 5. Chị Vương Thị M1 - Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- 6. Chị Phạm Thị T - Địa chỉ: Thôn S, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- 7. Anh Trần Hoàng P – Nơi thường trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 24/05/2024, Phòng C1 - Công an tỉnh L tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của chị Trần Thị H2 (sinh năm: 1976, nơi thường trú: Thôn N, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) trình báo về việc: từ khoảng năm 2021 đến nay Phùng Văn H (sinh năm: 1993, nơi thường trú: Tổ I, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai) có nhiều lần cho Trần Thị H2 vay số tiền 20.000.000 đồng, khi trả xong thành 24.000.000 đồng với hình thức vay “bốc họ” trong thời hạn 40 ngày, mỗi ngày Trần Thị H2 phải trả cho Phùng Văn H số tiền gốc, lãi là 600.000 đồng, với mức lãi suất 5.000đ/01 triệu/01 ngày, tương đương 182,5%/năm. Sau khi nhận được tố giác về tội phạm của Trần Thị H2, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành triệu tập làm việc và ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phùng Văn H tại địa chỉ số nhà A, đường B, tổ I, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Quá trình làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, bị cáo Phùng Văn H đã khai báo toàn bộ hành vi cho vay lãi nặng. Khoảng tháng 8/2021, nhận thấy có nhiều người có nhu cầu vay tiền để phục vụ mục đích chi tiêu cá nhân nên bị cáo Phùng Văn H nảy sinh ý định cho vay tiền với lãi suất cao gấp nhiều lần lãi suất ngân hàng quy định, mục đích để hưởng lợi bất chính. Hình thức cho vay là “bốc họ” trong thời hạn 30 ngày hoặc 40 ngày với các khoản vay khác nhau, với mức lãi suất theo thỏa thuận dao động thấp nhất từ 182,5%/năm đến cao nhất là 243,3%/năm, gấp 9,125 lần đến 12,165 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Đối với hình thức “bốc họ” trong thời hạn 40 ngày, với khoản vay 5.000.000 đồng, mỗi ngày khách vay phải thanh toán cả gốc và lãi là 150.000đ (gồm 125.000đ tiền gốc và 25.000đ tiền lãi) tương đương với mức lãi suất 182,5%/năm; với khoản vay 10.000.000đ, mỗi ngày khách vay phải thanh toán cả gốc và lãi là 300.000đ (gồm 250.000đ tiền gốc và 50.000đ tiền lãi), tương đương với mức lãi suất 182,5%/năm.
Đối với hình thức vay “bốc họ” trong thời hạn 30 ngày, với khoản vay 5.000.000đ, mỗi ngày khách vay phải trả số tiền cả gốc và lãi là 200.000đ (gồm 166.667đ là tiền gốc và 33.333đ là tiền lãi) tương đương với mức lãi suất 243,3%/năm; Với khoản vay 10.000.000đ, mỗi ngày khách vay phải thanh toán cả gốc và lãi là 400.000đ (gồm 333.333đ là tiền gốc và 66.667đ là tiền lãi), tương đương với mức lãi suất 243,3%/năm. Người vay tiền sẽ nhận tiền, thanh toán tiền gốc và lãi cho Phùng Văn H chủ yếu qua tài khoản ngân hàng, số ít lần thanh toán bằng tiền mặt.Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 8/2021 đến ngày 23/5/2024 bị cáo Phùng Văn H đã cho tổng cộng 07 người vay tiền với tổng số tiền cho vay là 1.930.000.000 đồng, tổng số tiền lãi đã thu là 369.366.666 đồng, số tiền đã thu lợi bất chính là 328.936.529 đồng, số tiền lãi trong mức quy định là 40.430.137 đồng. Cụ thể:
- Cho chị Trần Thị H2 vay tổng cộng 55 lần với các gói vay 10.000.000 đồng, 20.000.000 đồng, tổng số tiền vay 740.000.000 đồng, hình thức vay bốc họ trong thời hạn 40 ngày, mức lãi suất 182,5%/năm. Tổng số tiền lãi bị cáo đã thu của chị H2 trong các khoản vay trên là 142.100.000đồng trong đó thu lợi bất chính là 126.527.397đồng. Chị Trần Thị H2 còn nợ lại số tiền gốc là 29.500.000đ.
- Cho chị Nguyễn Thị L vay tổng cộng 46 lần các gói vay 5.000.000₫, 10.000.000đ, 20.000.000đ và 30.000.000đ, tổng cộng 485.000.000 đồng, hình thức vay bốc họ trong thời hạn 40 ngày, mức lãi suất 182,5%/năm. Tổng số tiền lãi đã thu của chị L là 97.000.000đồng, số tiền Phùng Văn H thu lợi bất chính là 86.369.863 đồng.
- Cho chị Nguyễn Thị Thúy H3 vay của Phùng Văn H tổng cộng 26 lần các gói vay 5.000.000 đồng và 10.000.000 đồng với hình thức vay bốc họ trong thời hạn 40 ngày, mức lãi suất 182,5%/năm, với tổng số tiền 240.000.000 đồng.Tổng số tiền lãi đã thu của chị H3 trong các khoản vay trên là 45.400.000 đồng, số tiền Phùng Văn H thu lợi bất chính là 40.424.658 đồng. Chị Nguyễn Thị Thúy H3 còn nợ lại số tiền gốc là 13.000.000 đồng.
- 4. Cho chị Hoàng Thị Q vay tổng cộng 17 lần các gói vay 5.000.000 đồng và 10.000.000 đồng với hình thức vay bốc họ trong thời hạn 40 ngày, mức lãi suất dao động từ 182,5%/năm đến 243,3%/năm, tổng số tiền 130.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi đã thu của chị Q trong các khoản vay trên là 23.366.666 đồng, số tiền Phùng Văn H thu lợi bất chính là 20.815.981đồng. Chị Hoàng Thị Q còn nợ số tiền gốc vay là 13.166.666 đồng.
- 5. Cho chị Phạm Thị Thanh V của Phùng Văn H tổng cộng 11 lần các gói vay 5.000.000đ và 10.000.000đ với hình thức vay bốc họ trong thời hạn 40 ngày, mức lãi suất dao động từ 182,5%/năm đến 243,3%/năm, tổng số tiền cho vay là 95.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi đã thu của chị T trong các khoản vay trên là 17.400.000 đồng, số tiền Phùng Văn H thu lợi bất chính là 15.531.507đồng. Chị Phạm Thị T còn nợ số tiền gốc vay là 8.000.000 đồng.
- 6. Cho chị Vương Thị M1 vay tổng cộng 8 lần gói vay 10.000.000đ với hình thức vay bốc họ trong thời hạn 40 ngày, mức lãi suất 182,5%/năm, với tổng số tiền cho vay 80.000.000 đồng.Tổng số tiền lãi đã thu của chị M1 trong các khoản vay trên là 14.500.000 đồng, số tiền Phùng Văn H thu lợi bất chính là 12.910.959 đồng. Chị Vương Thị M1 còn nợ số tiền gốc vay là 7.500.000 đồng.
- 7. Cho anh Trần Hoàng P vay tổng cộng 11 lần các gói vay 10.000.000₫ và 15.000.000đ với hình thức vay bốc họ trong thời hạn 40 ngày, mức lãi suất 182,5%/năm, tổng số tiền cho vay 160.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi đã thu là 29.600.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 26.356.164 đồng. Anh Trần Hoàng P còn nợ số tiền gốc vay là 12.000.000 đồng.
Cáo trạng số 118/CT-VKSTPLC ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Phùng Văn H về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng khoản 2, 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Văn H từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Phạt bổ sung bị cáo Phùng Văn H từ 40 triệu đến 50 triệu đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị:
Truy thu của bị cáo Phùng Văn H số tiền: 1.846.833.334 đồng và số tiền 40.430.137 đồng để nộp Ngân sách nhà nước;
Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng, viền vàng, số Imei: 358612414755801, bên trong lắp 01 thẻ sim (đã qua sử dụng) nộp Ngân sách Nhà nước;
Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, số Imei 355834086548685 bên trong lắp 01 thẻ sim (đã qua sử dụng) và số tiền 107.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Phùng Văn H: 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Phùng Văn H; 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Phùng Văn H;
Truy thu của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Trần Thị H2 số tiền 29.500.000 đồng; Chị Nguyễn Thị Thúy H3 số tiền 13.000.000 đồng; Chị Hoàng Thị Q số tiền: 13.166.666 đồng; chị Phạm Thị T số tiền 8.000.000 đồng; Chị Vương Thị M1 số tiền 7.500.000 đồng; Anh Trần Hoàng P số tiền 12.000.000 đồng để nộp Ngân sách nhà nước.
Buộc bị cáo phải trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thúy H3 số tiền đã thu lời bất chính là 40.424.658 đồng.
Tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Phùng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tổ tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Thời gian từ đầu từ tháng 8/2021 đến ngày 23/5/2024 bị cáo Phùng Văn H đã cho 07 người vay tiền với hình thức cho vay “bốc bát họ” thời gian 30 ngày hoặc 40 ngày tùy từng khoản vay, vay không có tài sản đảm bảo với mức lãi suất dao động từ 182,5%/năm đến 243,3%/năm (cao gấp từ 9,125 lần đến 12,165 lần) so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, nhằm mục đích thu lợi bất chính, với tổng số tiền cho vay là 1.930.000.000 đồng (một tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng), số tiền gốc đã thu được là: 1.846.833.334 đồng (Một tỷ tám trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi tư đồng), tổng số tiền lãi đã thu là 369.366.666 đồng (ba trăm sáu mươi chín triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng), trong đó số tiền lãi trong mức quy định là 40.430.137 đồng (bốn mươi triệu bốn trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng), số tiền thu lợi bất chính là 328.936.529 đồng (ba trăm hai mươi tám triệu chín trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm hai mươi chín đồng). Số tiền gốc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Trần Thị H2, Nguyễn Thị Thúy H3, Hoàng Thị Q, Phạm Thị T, Vương Thị M1, Trần Hoàng P còn nợ bị cáo Phùng Văn H tổng cộng là: 83.166.666 đồng (Tám mươi ba triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Phùng Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.
[3] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về quản lý hoạt động tín dụng, kinh doanh tiền tệ, xâm phạm lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn.
Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án, 01 tiền sự chưa được xóa tiền án, chưa xóa tiền sự. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có tài sản riêng là số tiền hiện đang bị tạm giữ tại tài khoản của Công an thành phố L, vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với khoản 3 Điều 3 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 201 Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
[5] Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Phùng Văn H có 01 tiền án tính đến nay chưa được xóa án tích, do đó lần phạm tội này là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6]Về vật chứng vụ án:
Đối với số tiền 1.846.833.334 đồng là số tiền gốc bị cáo thu được và số tiền 40.430.137 đồng đồng là số tiền lãi suất thu được, xét thấy đây là số tiền sử dụng vào việc phạm tội và số tiền phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước;
Đối với số tiền bị cáo thu lời bất chính là 328.936.529 đồng. Theo quy định tại khoản 2 điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 201 Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, thì số tiền trên sẽ trả lại cho những người vay. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin vắng mặt tại phiên tòa những người vay tiền gồm: chị Trần Thị H2, chị Nguyễn Thị L, chị Hoàng Thị Q, chị Phạm Thị T, chị Vương Thị M1, anh Trần Hoàng P không có yêu cầu bị cáo phải trả lại các khoản tiền bị cáo đã thu lời bất chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người vay là chị Nguyễn Thị Thúy H3, quá trình điều tra chị H3 không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền thu lời bất chính nhưng tại đơn xin vắng mặt tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Thúy H3 yêu cầu bị cáo phải trả lại khoản tiền đã thu lời bất chính tổng cộng là 40.424.658 đồng. Đây là số tiền bị cáo đã thu lời bất chính của chị H3 nên bị cáo có nghĩa vụ trả cho người vay số tiền đã thu lời bất chính, xét thấy là phù hợp.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, số Imei: 356733117282356, bên trong lắp 01 thẻ sim (đã qua sử dụng) bị cáo sử dụng làm phương tiện để phạm tội nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước;
Đối với: 1 (một) thẻ Căn cước công dân số: [...] mang tên Phùng Văn H; 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số: [...] mang tên Phùng Văn H là giấy tờ cá nhân cần trả cho bị cáo.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số I: 355834086548685, bên trong lắp 01 thẻ sim (đã qua sử dụng) là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành các khoản tiền thu nộp ngân sách nhà nước nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án
Đối với số tiền 107 triệu đồng thu giữ của bị cáo cần tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo cho việc thi hành án.
Đối với số tiền 83.166.666 đồng là tiền nợ gốc mà những người vay chưa trả cho bị cáo gồm: Chị Trần Thị H2 còn nợ gốc số tiền 29.500.000đ; Chị Nguyễn Thị Thúy H3 còn nợ gốc số tiền 13.000.000 đồng; Chị Hoàng Thị Q còn nợ gốc số tiền 13.166.666 đồng; Chị Phạm Thị T còn nợ gốc số tiền 8.000.000đ; Chị Vương Thị M1 còn nợ gốc số tiền 7.500.000đ; Anh Trần Hoàng P còn nợ gốc số tiền 12.000.000 đồng, xét thấy đây là số tiền bị cáo sử dụng để phạm tội nên cần buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp vào Ngân sách nhà nước.
[7] Về các vấn đề khác liên quan trong vụ án:
Đối với chị Trần Nhật L1, quá trình điều tra xác định bị cáo vay tiền của Trần Nhật L1 và nhờ L1 chuyển tiền vào tài khoản của người vay, sau đó Phùng Văn H đã trả lại hết số tiền này cho Trần Nhật L1. Tuy nhiên Trần Nhật L1 không biết việc Phùng Văn H sử dụng số tiền đã vay để thực hiện việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và không được hưởng lợi gì. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không đề cập xử lý đối với Trần Nhật L1 là phù hợp.
Đối với: Chị Trần Thị Quỳnh N; Chị Đỗ Thị Quế L2; Phạm Thị P1 Bùi Thị Phương H4; Hoàng Thị N1; chị Trần Thị B; Lương Thị T1; Phạm Thị H5; chị Nguyễn Thị Cẩm G; Nguyễn Thị D; Vũ Văn C; anh Hoàng Việt H6 và hai người khác có tên là L3, L4. Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận những người kể trên đều là những người đã vay tiền của H, tuy nhiên Phùng Văn H không nhớ rõ cụ thể đã cho vay bao nhiêu tiền, hình thức như thế nào, đã thu được bao nhiêu tiền lãi. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiến hành xác minh nhưng những người trên đều vắng mặt tại địa phương, đến nay chưa triệu tập làm việc được. Do vậy chưa đủ căn cứ để xem xét trong vụ án.
[8] Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:
Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng và hình phạt, về vật chứng là phù hợp.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 201; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phùng Văn H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt bị cáo Phùng Văn H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt 24/5/2024.
Phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) nộp Ngân sách nhà nước.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu của bị cáo Phùng Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng số Imei: 356733117282356, bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại cũ đã qua sử dụng để nộp Ngân sách Nhà nước;
- Trả lại cho bị cáo Phùng Văn H 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Phùng Văn H, 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Phùng Văn H;.
- Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Phùng Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số I: 355834086548685 bên trong lắp 01 thẻ sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng, vỏ bị trầy xước;
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai)
- Truy thu của bị cáo Phùng Văn H số tiền 1.846.833.334 đồng (Một tỷ tám trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi tư đồng) và số tiền 40.430.137 đồng (Bốn mươi triệu bốn trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng) để nộp Ngân sách nhà nước;
- Buộc bị cáo Phùng Văn H phải trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thúy H3 số tiền 40.424.658 đồng (Bốn mươi triệu bốn trăm hai mươi tư nghìn sáu trăm năm mươi tám đồng).
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 107.000.000 đồng (Một trăm linh bảy triệu đồng) của bị cáo Phùng Văn H (hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.9049863 của Công an thành phố L mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh L) để đảm bảo thi hành án.
- Truy thu của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Chị Trần Thị H2 số tiền 29.500.000 đồng (Hai mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng); Chị Nguyễn Thị Thúy H3 số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng); Chị Hoàng Thị Q số tiền 13.166.666 đồng (Mười ba triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng); Chị Phạm Thị T số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng); Chị Vương Thị M1 số tiền 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng); Anh Trần Hoàng P số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) để nộp Ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phùng Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Anh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Ngọc Bích |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Thanh Phương |
Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 132/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Văn H cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
