|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 132/2024/DS-ST
Ngày: 26/9/2024
V/v: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG,
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Ngọc Yến Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Trần Khoa
Ông Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 173/2024/TLST-DS ngày 22/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng N;
Địa chỉ trụ sở: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Hiền L, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh C1 (Theo Quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Tổng Giám đốc Ngân hàng N).
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Ngô Văn Vĩnh T, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N- Chi nhánh C1 (Theo Giấy ủy quyền số 120/QĐ-NHNo.CXM ngày 16/02/2024 của Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh C1); Ông T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Bị đơn:
1. Ông Huỳnh Ngọc C, sinh năm: 1969; Địa chỉ: Số A L, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm: 1981; Địa chỉ: Số A đường C, V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; (Theo Giấy ủy quyền được Văn phòng C2 chứng nhận ngày 28/5/2024); Bà Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bà Trần Thị L1, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 27/3/2020, A1 Chi nhánh C1 đã giải quyết cho ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 vay theo hợp đồng tín dụng số 4708-LAV-202000028; Cụ thể: Phương thức cho vay: Cho vay từng lần; Tổng số tiền cho vay: 3.500.000.000 đồng (Ba tỷ, năm trăm triệu đồng); Tổng số tiền thực tế nhận nợ: 3.500.000.000 đồng (Ba tỷ, năm trăm triệu đồng); Mục đích vay vốn: Bù đắp tài chính chi phí mua nhà để ở tại địa chỉ E Y, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng 245/2020-Quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐCN ngày 18/3/2020 tại Văn phòng C2); Thời hạn vay vốn: 180 tháng; Hạn trả nợ cuối cùng: 27/3/2035.
Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 4708-LCL-202000015 ký ngày 27/3/2020 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh C1 (Bên nhận thế chấp) và Ông Huỳnh Ngọc C (Bên thế chấp), ông Huỳnh Ngọc C thế chấp tài sản bằng bất động sản để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 đối với khoản vay trên; Cụ thể như sau:
- Quyền sử dụng thửa đất số 104; Tờ bản đồ số: 13; Địa chỉ: Số E Y, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Diện tích: 168m²; Hình thức sử dụng (Sử dụng riêng: 109,7m²; Sử dụng chung: 58,3m²); Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô thị; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất.
- Tài sản gắn liền với đất: Nhà ở; Địa chỉ: Số E Y, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Loại nhà ở: Nhà ở riêng lẻ; Diện tích xây dựng: 71,3 m²; Diện tích sàn: 148,7m²; Hình thức sở hữu: Sở hữu riêng; Cấp (Hạng): Cấp 3.
(Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CU 148694, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00169 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K-TUQ.Giám đốc-Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N cấp ngày 26/3/2020 cho Ông Huỳnh Ngọc C).
Giá trị tài sản nhận thế chấp tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp: 14.500.000.000 đồng (Trong đó: Giá trị tài sản: 4.700.000.000 đồng đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Ông Huỳnh Ngọc C; Giá trị tài sản: 9.800.000.000 đồng đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Cty TNHH MTV TM&DV vận tải H). Việc xác định giá trị tài sản nhận làm đảm bảo chỉ làm cơ sở để xác định mức cho vay, không áp dụng trong trường hợp phải xử lý tài sản để thu hồi nợ.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, phía bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 04/6/2024, Ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 phải trả nợ cho A1 - Chi nhánh C1 các khoản bao gồm: Nợ gốc: 2.644.000.000 đồng; Nợ lãi tạm tính đến ngày 04/6/2024: 164.491.557 đồng, (Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 159.303.426 đồng và nợ lãi quá hạn/Lãi chậm trả: 5.188.131 đồng).
A1 Chi nhánh C1 nhiều lần làm việc, gửi thông báo cho ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, nhưng đến hiện tại Ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 vẫn không trả nợ vay và phát sinh nợ quá hạn kéo dài, làm thiệt hại đến tài chính của Ngân hàng chúng tôi. Vì vậy, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho A1 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang buộc ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 phải trả cho A1 Chi nhánh C1 tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 04/6/2024 là 2.808.491.557 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 2.644.000.000 đồng; Nợ lãi: 164.491.557 đồng; Cùng toàn bộ các khoản nợ lãi, các khoản phí phát sinh có liên quan theo số dư nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 4708-LAV-202000028 ký kết ngày 27/3/2020 kể từ ngày 05/6/2024 cho đến khi ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo đúng quy định của pháp luật.
Trường hợp ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 không thanh toán được đầy đủ các khoản nợ đã và đang phát sinh cho A1 Chi nhánh C1, thì đề nghị Q tòa cho kê biên, phát mãi bán toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số E đường Y, phường P, Tp N, tỉnh Khánh Hòa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành CU 148694, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00169, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K-TUQ.Giám đốc-Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N cấp ngày 26/3/2020 cho ông Huỳnh Ngọc C. Và các tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ chồng Ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 để thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo cam kết.
Về án phí: Yêu cầu bị đơn phải chịu toàn bộ án phí.
Về chi phí tố tụng: Ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng số tiền mà Ngân hàng đã tạm ứng phục vụ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
* Theo bản tự khai, biên bản hòa giải, bà Nguyễn Thị Ngọc Y là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Huỳnh Ngọc C trình bày:
Ông Huỳnh Ngọc C xác nhận thông tin Hợp đồng tín dụng số 4708-LAV-202000028 ngày 27/3/2020, Hợp đồng thế chấp tài sản số 4708-LCL-202000015 ký ngày 27/3/2020, quá trình giải ngân, quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng giữa ông C và A1 như lời trình bày của A1 nêu trên, là đúng.
Cuối năm 2023, ông Huỳnh Ngọc C và bà Trần Thị Lệ L2 thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang; Theo đó, ông C thỏa thuận và cam kết sẽ thay bà L1 trả khoản nợ vay tại A1, theo Hợp đồng tín dụng số 4708-LAV-202000028 ngày 27/3/2020 được ký kết giữa A1 và ông C, bà L1.
Tính đến hết ngày 04/6/2024, ông C còn nợ A1 số tiền là: 2.808.491.557 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 2.644.000.000 đồng; Nợ lãi tạm tính đến hết ngày 04/6/2024: 164.491.557 đồng (Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 159.303.426 đồng và nợ lãi quá hạn/Lãi chậm trả: 5.188.131 đồng).
Hiện nay, ông C đang rao bán tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (Thửa đất số: 104; Tờ bản đồ số: 13); Địa chỉ: Số E Y, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Diện tích: 168m², nên ông C cam kết sẽ trả nợ cho A1 theo phương án cụ thể như sau: Trong thời hạn 03 (Ba) tháng, tính từ ngày 04/6/2024, ông C sẽ trả cho A1 tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 04/6/2024 là: 2.808.491.557 đồng (Hai tỷ tám trăm lẻ tám triệu bốn trăm chín mươi mốt ngàn năm trăm năm mươi bảy đồng), trong đó: Nợ gốc: 2.644.000.000 đồng; Nợ lãi tạm tính đến ngày 04/6/2024: 164.491.557 đồng; (Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 159.303.426 đồng, nợ lãi quá hạn/Lãi chậm trả: 5.188.131 đồng); Và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 04/6/2024 đối với số tiền nợ gốc còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi bị đơn thanh toán hết nợ cho A1.
Trường hợp các bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ ở bất kỳ thời điểm nào thì kể từ ngày tiếp theo của ngày vi phạm, A1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự thu hồi toàn bộ số nợ còn lại mà các bị đơn chưa thanh toán hoặc phát mãi tài sản mà các bị đơn đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 104; Tờ bản đồ số: 13; Địa chỉ: Số E Y, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Diện tích: 168m² (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành CU 148694, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00169, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K-TUQ.Giám đốc-Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N cấp ngày 26/3/2020 cho ông Huỳnh Ngọc C), để thu hồi nợ.
Sau khi các bị đơn hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, A1 phải trả lại cho ông Huỳnh Ngọc C giấy tờ về tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 104; Tờ bản đồ số: 13; Địa chỉ: Số E Y, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Huỳnh Ngọc C.
* Đối với bị đơn Trần Thị L1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang nhiều lần thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn – bà Trần Thị L1, yêu cầu bà có mặt tại Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang để cung cấp tài liệu, chứng cứ, trình bày ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, bà L1 vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đính kèm theo bản kê tính lãi tính đến ngày 26/9/2024.
- Các đương sự khác đều vắng mặt.
-
Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
- Án phí và chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng N (Sau đây viết tắt là A1) và ông Huỳnh Ngọc C; Địa chỉ thường trú tại số E Y, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa và bà Trần Thị L1; Địa chỉ thường trú tại thôn Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Theo các tài liệu do nguyên đơn cung cấp gồm: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân của ông Huỳnh Ngọc C, bà Trần Thị L1; Hợp đồng tín dụng số 4708-LAV-202000028 ngày 27/3/2020 giữa A1 - Chi nhánh C1 với ông/bà Huỳnh Ngọc C, Trần Thị L1; Hợp đồng thế chấp tài sản số 4708-LCL-202000015 ký ngày 27/3/2020; Hợp đồng lao động ngày 05/4/2018; Phương án sử dụng vốn ngày 24/3/2020... đều thể hiện bà Trần Thị L1 có địa chỉ thường trú tại: Thôn Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đề ngày 12/8/2024, tại Công an xã V, thành phố N xác nhận: “Bà Trần Thị L1, sinh năm 1984 có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hiện nay, bà L1 không có mặt tại địa phương”. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định nguyên đơn A1 đã ghi đầy đủ và chính xác địa chỉ của bị đơn bà Trần Thị Lệ. Việc bà L1 thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho A1 biết về nơi cư trú, nơi làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ, theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự”. Tòa án đã tiến hành tống niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của bà L1 theo quy định tại khoản 5 Điều 177, Điều 179 và tiến hành thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng theo Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[1.3] Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn A1, bị đơn ông Huỳnh Ngọc C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Trần Thị L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trong vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ vào lời khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Ngày 27/3/2020, A1 - Chi nhánh C1 với ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 vay theo hợp đồng tín dụng số 4708-LAV-202000028; Cụ thể: Phương thức cho vay: Cho vay từng lần; Tổng số tiền cho vay: 3.500.000.000 đồng (Ba tỷ, năm trăm triệu đồng); Mục đích vay vốn: Bù đắp tài chính chi phí mua nhà để ở tại địa chỉ E Y, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Thời hạn vay vốn: 180 tháng; Hạn trả nợ cuối cùng: 27/3/2035.
Thực hiện hợp đồng, A1 - Chi nhánh C1 đã giải ngân tổng số tiền: 3.500.000.000 đồng (Ba tỷ, năm trăm triệu đồng) cho ông C, bà L1, theo giấy nhận nợ số 4708-LDS-202000073. Quá trình vay, ông C, bà L1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc là 856.000.000 đồng; Đến ngày 20/11/2023, ông C, bà L1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ nợ vay sang nợ quá hạn. Như vậy, tính đến ngày 26/9/2024, số nợ còn lại là 2.907.578.362 đồng, trong đó nợ gốc: 2.644.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 237.754.165 đồng và lãi quá hạn/lãi chậm trả: 25.824.197 đồng. Nay, Ngân hàng yêu cầu ông C, bà L1 phải thanh toán một lần số nợ còn lại, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Và tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng nói trên kể từ ngày 27/9/2024 cho đến khi ông C, bà L1 trả hết nợ. Đồng thời, A1 yêu cầu được kê biên, phát mãi bán toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số E đường Y, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành CU 148694, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00169, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K-TUQ.Giám đốc-Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N cấp ngày 26/3/2020 cho ông Huỳnh Ngọc C. Và các tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ chồng Ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 để thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo cam kết.
[2.2] Tòa xét: Việc giao kết hợp đồng, thỏa thuận lãi suất giữa A1 với ông Huỳnh Ngọc C, bà Trần Thị L1 là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội. Do vậy, Hợp đồng tín dụng số 4708-LAV-202000028 ngày 27/3/2020 có đủ điều kiện để phát sinh hiệu lực, các chủ thể tham gia giao dịch phải có nghĩa vụ tôn trọng, thực hiện các thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng.
Từ ngày 20/11/2023, ông C, bà L1 không thanh toán các khoản nợ gốc, lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận nên A1 đã chuyển toàn bộ khoản nợ vay sang nợ quá hạn là đúng quy định tại khoản 2.2 Điều 2 (Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng) của Hợp đồng tín dụng nói trên. Việc ông C, bà L1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Do vậy, nguyên đơn A1 khởi kiện yêu cầu bị đơn ông C, bà L1 phải thanh toán số nợ tính đến ngày 26/9/2024: Nợ gốc: 2.644.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 237.754.165 đồng và lãi quá hạn/lãi chậm trả: 25.824.197 đồng; Tổng cộng: 2.907.578.362 đồng, là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng đã ký, phù hợp qui định của Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, nên được chấp nhận.
Ngoài ra, vào ngày 27/3/2020, giữa A1 - Chi nhánh C1 (Bên nhận thế chấp) và ông Huỳnh Ngọc C (Bên thế chấp) có ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 4708-LCL-202000015; Theo đó, ông C thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản sản khác gắn liền với đất tại thửa số 104, tờ bản đồ số: 13, địa chỉ: Số E Y, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành CU 148694, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00169, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K-TUQ.Giám đốc - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N, cấp ngày 26/3/2020 cho ông Huỳnh Ngọc C), để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của ông/bà Huỳnh Ngọc C-Trần Thị L1 đối với khoản vay trên. Thỏa thuận này được ông C thừa nhận là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 335, Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp ông C, bà L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì A1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo, để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Án phí và chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[3.1] Án phí:
- Bị đơn ông Huỳnh Ngọc C, bà Trần Thị L1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền còn nợ 2.907.578.362 đồng; Cụ thể: Ông C, bà L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 72.000.000 + {(2.907.578.362 - 2.000.000.000) x 2%} = 90.151.579 đồng (Chín mươi triệu một trăm năm mươi mốt ngàn năm trăm bảy mươi chín đồng).
- Hoàn trả lại cho A1 số tiền tạm ứng án phí 43.079.000 đồng (Bốn mươi ba triệu không trăm bảy mươi chín ngàn đồng) mà A1 đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002275 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
[3.2] Chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Huỳnh Ngọc C, bà Trần Thị L1 phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng (Xem xét, thẩm định tại chỗ; đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng), với số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). A1 đã tạm ứng chi phí này nên ông C, bà L1 có nghĩa vụ thanh toán lại số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) cho A1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 335; Điều 336; khoản 1 Điều 342; Điều 463; Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Khoản 3 Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
1.1. Ông Huỳnh Ngọc C, bà Trần Thị L1 có nghĩa vụ thanh toán một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, cho Ngân hàng N số tiền còn nợ (Tính đến ngày 26/9/2024) là: 2.907.578.362 đồng (Hai tỷ, chín trăm lẻ bảy triệu, năm trăm bảy mươi tám ngàn, ba trăm sáu mươi hai đồng); Trong đó:
- Nợ gốc: 2.644.000.000 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 237.754.165 đồng;
- Nợ lãi quá hạn/lãi chậm trả: 25.824.197 đồng;
Và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn lại, tính từ ngày 27/9/2024 cho đến khi ông Huỳnh Ngọc C, bà Trần Thị L1 thanh toán hết nợ vay, theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 4708-LAV-202000028 ngày 27/3/2020.
1.2. Trường hợp ông Huỳnh Ngọc C, bà Trần Thị L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng N, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản sản khác gắn liền với đất tại thửa số 104, tờ bản đồ số: 13, địa chỉ: Số E Y, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành CU 148694, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 00169, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K-TUQ.Giám đốc - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N, cấp ngày 26/3/2020 cho ông Huỳnh Ngọc C), để thu hồi nợ, theo đúng cam kết tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 4708-LCL-202000015, giữa Ngân hàng N với ông Huỳnh Ngọc C.
2. Án phí và chi phí tố tụng:
2.1. Án phí:
- Bị đơn ông Huỳnh Ngọc C, bà Trần Thị L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 90.151.579 đồng (chín mươi triệu một trăm năm mươi mốt ngàn năm trăm bảy mươi chín đồng).
- Trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí 43.079.000 đồng (Bốn mươi ba triệu không trăm bảy mươi chín ngàn đồng) mà Ngân hàng N đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002275 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
2.2. Chi phí tố tụng: Ông Huỳnh Ngọc C, bà Trần Thị L1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) cho Ngân hàng N.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết.
4. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Lý |
Lương Ngọc Yến A |
|
Đặng Trần K |
Bản án số 132/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 132/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Agribank - Chiến
