Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đèo Văn Vĩnh

Ông Vân Văn Kiều

- Thư ký phiên tòa: bà Lù Thị Xuân - Thư ký TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 130/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hảng A P; sinh ngày: 12/8/1967, tại huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản S, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hảng A (đã chết); Con bà: Giàng Thị M (đã chết); Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

*Nhân thân: tại Bản án số 20/HS-ST, ngày 27/4/2004 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Hảng A P 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo đã chấp hành xong thời gian thử thách, thi hành xong khoản án phí. Hiện bị cáo đã được xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 bị cáo được chuyển xuống nhà tạm giữ Công an huyện P cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ, ngày 09/6/2024, Hảng A P điều khiển xe mô tô của bị cáo, mang biển kiểm soát 86S2-6319 đi từ nhà đến bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu để tìm mua Heroine về sử dụng. Tại bản Tà Tê, P gặp và mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ lai lịch 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Mua được H, P cất giấu trong lỗ rách của yên xe mô tô đang đi rồi điều khiển xe đi về. Đến 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi Hảng A đi đến bản S, xã M, huyện P thì bị Công an xã M phát hiện, bắt quả tang, vật chứng thu giữ của P là 02 gói Heroine, 01 xe mô tô biển kiểm soát 86S2-6319.

Tại bản Kết luận giám định số: 04 ngày 09/6/2024 của người giám định theo vụ việc kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Hảng A có tổng khối lượng là 0,122 gam; Bản Kết luận giám định số: 714 ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 02 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý; loại Heroine.

Cáo trạng số 83/CT-VKS, ngày 13/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố Hảng A P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hảng A P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hảng A P từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đề nghị xử lý án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì niêm phong đã mở. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát 86S2-6319.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hảng A P đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không có ý kiến, khiếu nại về cáo trạng, các quyết định, kết luận tố tụng có trong hồ sơ vụ án, cũng như không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Tại lời nói sau cùng bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

2

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. [2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, thể hiện: Hồi 11 giờ 45 phút, ngày 09/6/2024, tại bản S, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, Hảng A P đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có khối lượng 0,122 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã M, huyện P phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

    Về nguồn gốc ma túy, Hảng A khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ. Lời khai nhận tội của bị cáo P tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo H1 A P là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Hảng A P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

  3. [3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Năm 2004, bị cáo bị kết án về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, bị cáo đã chấp hành xong thời gian thử thách, thi hành xong khoản án phí, hiện đã được xoá án tích, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học nhắc nhở bản thân tránh xa ma túy, đến nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội ma túy. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Hảng A P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo, không biết chữ, cho nên sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Hội đồng xét xử trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định,

3

đồng thời cần có một mức hình phạt phù hợp nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

  1. [4] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm hành nghề, tịch thu tài sản.... Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, mặt khác bị cáo còn phải chấp hành án phạt tù nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. [5] Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,122 gam Heroine thu giữ của Hảng A, Cơ quan điều tra đã lấy toàn bộ gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật). Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 02 mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì niêm phong đã mở, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ - đen mang biển kiểm soát 86S2-6319, xe cũ đã qua sử dụng, kèm theo chìa khóa xe và giấy chứng nhận đăng ký xe số 001756 mang tên Hồ Cháu Nhìn. Xét thấy, vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy và sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  3. [6] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  4. [7] Về án phí: tại phiên tòa, bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, xét bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc hộ nghèo. Vì vậy, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Quyết định số: 861/QĐ-TTg, ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6

4

Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  1. [1] Tuyên bố bị cáo Hảng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  2. [2] Về hình phạt: xử phạt bị cáo Hảng A P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. [3] Về vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 02 mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì niêm phong đã mở; tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ - đen mang biển kiểm soát: 86S2-6319, xe cũ đã qua sử dụng, kèm theo chìa khóa xe và giấy chứng nhận đăng ký xe số 001756 mang tên Hồ Cháu Nhìn.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 9 giờ 00 phút ngày 17/9/2024 giữa Công an huyện P, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

  4. [4] Về án phí: Miễn án phí hình sự sở thẩm cho bị cáo.

  5. [5] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Phong Thổ;
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Phong Thổ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Phong Thổ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Huệ

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 132/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger