Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 132/2024/HS-ST

Ngày: 20-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Yến Nhi và bà Nguyễn Thị Xuân

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Hoàng K – sinh năm 1996, tại Bến Tre

Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn P – sinh năm 1971 và bà Trịnh Thị Bé T – sinh năm 1968; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/6/2024 đến nay, hiện đang tại ngoại. (Có mặt)

- Bị hại: Ông Nguyễn Minh N – sinh năm 1955 (Đã chết)

Địa chỉ: Tổ A, Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Bà Trần Thị T1 – sinh năm 1958 (Vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Văn H – sinh năm 1988 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ A, Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

  1. Chị Nguyễn Thị T2 – sinh năm 1980 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn dân sự: Anh Phan Chí L – sinh năm 1983 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hoàng K có giấy phép lái xe hạng C, do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 04/3/2021 có giá trị đến ngày 04/3/2026. Buổi sáng ngày 29/5/2024, Lê Hoàng K điều khiển xe ô tô tải biển số 71H-011.39 do anh Phan Chí L làm chủ phương tiện trên quốc lộ 20 theo hướng Lâm Đồng - D. Lúc 07 giờ 15 phút cùng ngày, khi đến KM 61+800m Quốc lộ B thuộc xã P, huyện T, tỉnh Đông Nai nhìn thấy xe gắn máy biển số 60AC-090.18 do ông Nguyễn Minh N điều khiển đi cùng chiều phía trước liền bật tín hiệu đèn xi nhan xin vượt xe. Khi xe gắn máy biên số 60AC- 090.18 do ông N điều khiển chưa tránh hoàn toàn về bên phải thì Lê Hoàng K điều khiển xe ô tô tải biển số 71H-011.39 vượt lên phía trước. Liền đó, cản xe phía bên hông xe ô tô tải của K va quẹt với tay lái bên trái xe gắn máy do ông N điều khiển xảy ra tai nạn giao thông. Tại hiện trường vụ tai nạn, mặt lòng đường rộng 10m80. Sau khi xảy ra tai nạn: Ông N chết tại hiện trường, tâm đầu ông N cách mép đường phải 2m90, giữa hai chân cách mép phải 2m60, cách xe ô tô biển số 71H- 11.39 là 0m30; tâm bánh trước và bánh sau của xe ô tô biển số 71H-011.39 cách mép lòng đường bên phải lần lượt là 02m70 và 02m80; vết trượt dài 05m70, đầu vết trượt cách mép lòng đường bên phải là 02m90; tâm bánh trước và bánh sau của xe gắn máy biển số 60AC-090.18 cách mép lòng đường bên phải lần lượt là 1m70 và 01m90 (Hướng bên phải nêu trên được tính theo chiều lưu hành của xe ô tô do K điều khiển).

Nguyên nhân lỗi gây ra vụ tai nạn giao thông do Lê Hoàng K điều khiển xe ô tô biển số 71H-011.39 vượt xe trái phép không đảm bảo điều kiện an toàn.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 155/KLGĐTT TTP YÐN ngày 12/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đã xác định nguyên nhân chết do đa chấn thương gồm chấn thương đầu mặt gây biến dạng đầu, mặt vỡ phức tạp xương sọ-mặt, rách màng não, dập thoát tổ chức não ra ngoài, chấn thương vùng bụng và vùng chậu gây rách da cơ phức tạp vùng bẹn và tầng sinh môn, thoát tổ chức ruột ra ngoài qua hậu môn.

Quá trình điều tra, K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo Cáo trạng số 102/CT-VKS-TP ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Lê Hoàng K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hoàng K mức án 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường thiệt hại và bị hại đã bãi nại về dân sự nên không đề nghị xem xét. Về xử lý vật chứng đã trao trả các xe ô tô, mô tô cho chủ sở hữu nên không đề nghị xem xét. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại anh H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị là tương xứng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào lúc 07 giờ 15 phút ngày 29/4/2024 tại KM 61+800m Quốc lộ B thuộc xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Lê Hoàng K điều khiển xe ô tô tải biển số 71H-011.39 vượt xe không bảo đảm các điều kiện quy định nên gây tai nạn giao thông đường bộ làm ông Nguyễn Minh N tử vong.

Hành vi của Lê Hoàng K đã vi phạm Điều 14 Luật Giao thông đường bộ:

“Điều 14. Vượt xe

  1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.
  2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.

...

  1. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;”

Hành vi của Lê Hoàng K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Ngoài ra còn xem xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, hoàn cảnh khó khăn, bị cáo từng tham gia quân đội; ông nội bị cáo có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị hại có một phần lỗi không chú ý quan sát khi có xe xin vượt; người đại diện hợp pháp cho bị hại đề nghị giảm nhẹ đối với bị cáo và bãi nại về dân sự. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về căn cứ quyết định hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, an toàn giao thông, không những gây ra thiệt hại về tài sản, tính mạng của người khác mà còn gây mất an toàn tham gia giao thông, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ được hành vi của mình. Bị cáo không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông, vượt xe không đảm bảo quy định dẫn đến gây ra tai nạn giao thông làm bị hại tử vong, với lỗi vô ý.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

[6] Về biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại số tiền 150.000.000₫ (Một trăm năm mươi triệu đồng) và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đã trao trả 01 giấy phép lái xe cho bị cáo; các xe ô tô, mô tô đã trao trả cho chủ sở hữu, người quản lý sử dụng hợp pháp là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư liên tịch 01/2023/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 18/01/2023;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng K 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/9/2024).

Giao bị cáo Lê Hoàng K cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt, bị đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và bị đơn dân sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 132/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Lê Hoàng K 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/9/2024).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger