TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM H Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 132/2024/HNGĐ -ST Ngày: 26/8/2024 (V/v Tranh chấp ly hôn) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Ngọc Bích
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tâm và bà Đỗ Kim Phụng
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 336/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Q, sinh năm 1982
Địa chỉ: ấp Văn Đức B, xã An T, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu - Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1983
Địa chỉ: ấp Văn Đức B, xã An T, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu
(Chị Q có đơn xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 21/6/2024, lời khai trong quá trình tố tụng, chị Phan Thị Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn Đ chung sống với nhau vào năm 2004, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An T, huyện Đ H và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Nguyên nhân ly hôn: Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cải vả do bất đồng quan điểm sống, anh Đ nhậu nhẹt, đánh chị và xúc phạm chị nhiều lần nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân đến nay gần 15 năm, anh Đ cũng có liên lạc cho con nhưng không tìm được biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Nay chị xác định vợ chồng không còn khả năng hàn gắn với nhau cũng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn Đ.
Về con chung: Chị Q xác định anh chị 01 người con chung Phan Cẩm T, sinh ngày 01/01/2005, hiện nay con đã trưởng thành tự lo cho bản thân nên khi ly hôn không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Q xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với anh Trần Văn Đ: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Đ vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh Đ theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Chị Q và anh Đ kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng trong thời gian chung sống anh chị bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống không còn hạnh phúc, chị Q xác định không thể tiếp tục chung sống với anh Đ nên yêu cầu ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Q được ly hôn với anh Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Q xác định anh chị 01 người con chung Phan Cẩm T, sinh ngày 01/01/2005, hiện nay con đã trưởng thành tự lo cho bản thân nên khi ly hôn không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Q xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình chị Q phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phan Thị Q có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Trần Văn Đ. Anh Đ có địa chỉ cư trú tại huyện Đ H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.
Chị Q có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án: Chị Q và anh Đ chung sống với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân UBND xã An Trạch, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị Q và anh Đ có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống hiến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị Q xác định anh chị đã sống ly thân một thời gian dài, không quan tâm nhau cũng không tìm được biện pháp hàn gắn. Như vậy mâu thuẫn hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q đối với anh Đ là hoàn toàn phù hợp.
Về con chung: Chị Q xác định anh chị 01 người con chung Phan Cẩm T, sinh ngày 01/01/2005, hiện nay con đã trưởng thành tự lo cho bản thân nên khi ly hôn không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Q xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Q phải chịu theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51,53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Q. Xử cho chị Phan Thị Q được ly hôn với anh Trần Văn Đ.
- Về con chung: Đã trưởng thành.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có
- Về án phí: Chị Phan Thị Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010395 ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Phan Thị Q và anh Trần Văn Đ được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Thị Ngọc Bích |
Bản án số 132/2024/HNGĐ -ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 132/2024/HNGĐ -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phan Thị Quanh yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn Đỏ
