|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2023/HS-ST Ngày: 28 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Sỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Trường.
- Ông Bùi Ngọc Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2023/HSST-QĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Đoàn Thị M; sinh ngày 04 tháng 10 năm 1979 tại Nam Định; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị S; có chồng là Lưu Xuân N1 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/9/2019 bị Chủ tịch UBND xã H xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, đã nộp tiền phạt ngày 06/9/2019; bị tạm giữ từ ngày 27/8/2023 đến ngày 30/8/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Thành N2; sinh ngày 02 tháng 4 năm 1981 tại Nam Định; nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Lương Thị B; có vợ là Nguyễn Thị Đoan T và 04 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; Ngày 28/12/2019 bị Chủ tịch UBND xã H xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, đã nộp tiền phạt ngày 30/12/2019; bị tạm giữ từ ngày 27/8/2023 đến ngày 30/8/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Trần Thị S1; sinh ngày 20 tháng 5 năm 1987 tại Hòa Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Đinh Thị N3; có chồng là Phạm Văn N4 và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27/8/2023 đến ngày 30/8/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Phạm Văn Đ; sinh ngày 01/02/1970 tại Nam Định; nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quang C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ1; có vợ là Nguyễn Thị O và 03 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1993; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27/8/2023 đến ngày 30/8/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Đoàn Văn Ô; sinh ngày 11 tháng 3 năm 1961 tại Nam Định; nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Nguyễn Thị T2 và 02 con, con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1992; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 27/8/2023, Công an huyện D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các bị cáo Đoàn Thị M, Trần Thị S1, Nguyễn Thành N2, Phạm Văn Đ do đang đánh bạc bằng hình thức “Câu cá” trong căn nhà của bị cáo Đoàn Văn Ô tại Thôn G, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, thu giữ số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 9.310.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo gắn sim số 0397673690 của bị cáo M; 01 điện thoại di động hiệu Oppo gắn sim số 0964623374 của bị cáo N2; 01 điện thoại di động hiệu Nokia gắn sim số 0367915900 va 01 xe mô tô biển số 49G1-426.07 của bị cáo Đ; 01 điện thoại di động hiệu Vivo gắn sim số 0378487761 và 01 xe mô tô biển số 49K1-248.60 của bị cáo S1. Kết quả điều tra đã làm rõ như sau:
Vào ngày 27/8/2023, bị cáo Đoàn Văn Ô có mời một số bà con, bạn bè đến ăn cơm trưa tại nhà của bị cáo thuộc Thôn G, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Sau bữa ăn các bị cáo M, N2, Đ, S1 rủ nhau đánh đánh bài “Câu cá” thắng thua bằng tiền, thỏa thuận ván bài nào có bị cáo được trên 90 điểm thì bị cáo đó bỏ ra 10.000 đồng để mua nước uống chung (gọi là tiền “Xâu”). Bị cáo Ô lấy 01 bộ bài tây có sẵn trong nhà và mua thêm 01 bộ bài tây khác đưa cho các bị cáo M, N2, Đ, S1 sử dụng đánh bài từ lúc 14 giờ 30 ngày 27/8/2023 đến 16 giờ 30 cùng ngày thì bị cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ 02 bộ bài tây và tổng số tiền 9.310.000 đồng, gồm 40.000 đồng tiền xâu; của bị cáo M 2.900.000 đồng; của bị cáo N2 2.000.000 đồng; của bị cáo Đ 3.800.000 đồng và của bị cáo S1 570.000 đồng.
Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm như đã nêu ở trên. Kết thúc điều tra Công an huyện D đã trả tài sản là điện thoại di động và xe mô tô do cho các bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội; đối với 02 bộ bài tây là công cụ, phương tiện phạm tội được Công an huyện D bàn giao cho cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh; đối với số tiền 9.310.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc được Công an huyện D gửi vào tài khoản tạm gửi chờ xử lý.
Tại Bản cáo trạng số: 123/CTr-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố Đoàn Thị M, Trần Thị S1, Phạm Văn Đ, Nguyễn Thành N2 và Đoàn Văn Ô về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, các bị cáo M, S1, N2, Đoàn thành khẩn khai nhận đã sử dụng 9.310.000 đồng để đánh bài được thua bằng tiền tại nhà của bị cáo Đoàn Văn Ô thuộc Thôn G, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 27/8/2023. Bị cáo Đoàn Văn Ô thừa nhận đã cung cấp 02 bộ bài tây cho các bị cáo M, N2, Đ, S1 sử dụng để đánh bài được thua bằng tiền tại nhà của mình vào ngày 27/8/2023 như đã nêu ở trên. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều ăn năn hối cải, xin hứa không tái phạm và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa khẳng định cáo trạng truy tố các bị cáo về tội đánh bạc là có căn cứ pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đoàn Thị M, Trần Thị S1, Phạm Văn Đ, Nguyễn Thành N2, Đoàn Văn Ô phạm tội “Đánh bạc” và xử lý như sau.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 35, Điều 50, điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn Đ. Áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo như sau.
- Xử phạt các bị cáo Đoàn Thị M, Nguyễn Thành N2 và Trần Thị S1 mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; bị cáo Phạm Văn Đ và bị cáo Đoàn Văn Ô mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đền 30.000.000 đồng.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 9.310.000 đồng các bị cáo sử dụng đánh bạc; tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây là công cụ phạm tội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đoàn Văn Ô, buộc các bị cáo M, N2, Đ, S1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan Điều tra và của Điều tra viên, của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng lập ngày 27/8/2023; biên bản xác định hiện trường vụ án lập ngày 20/10/2023 và bản ảnh kèm theo; các bản tường trình, bản tự khai và các biên bản ghi lời khai các bị cáo. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 27/8/2023 tại nhà của Đoàn Văn Ô thuộc Thôn G, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, các bị cáo Đoàn Thị M, Trần Thị S1, Nguyễn Thành N2, Phạm Văn Đ đã thực hiện hành vi đánh bài “Câu cá” được thua bằng tiền, số tiền các bị cáo đã sử dụng để đánh bài là 9.310.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo M, S1, Đ, N2 đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Đoàn Văn Ô không trực tiếp tham gia đánh bạc, nhưng bị cáo Ô đã tạo điều kiện vật chất cho các bị cáo khác phạm tội thông qua việc cung cấp 02 bộ bài tây cho các bị cáo M, N2, Đ, S1 sử dụng để đánh bạc tại nhà của bị cáo Ô vào ngày 27/8/2023. Vì vậy, hành vi của bị cáo Ô cũng phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự với vai trò là người giúp sức trong vụ án.
[3] Các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Vì vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Đ có bố được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3 nên bị cáo Đ được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4] Xét thấy các bị cáo phạm tội dưới hình thức đồng phạm giản đơn; không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc không lớn; bản thân các bị cáo đều là người lao động làm nghề nông nhất thời phạm tội ít nghiêm trọng. Do đó, cần căn cứ Điều 35 của Bộ luật hình sự áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật. Đối với bị cáo M đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép vào năm 2019, bị cáo N2 đã bị xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác vào năm 2019, mặc dù các bị cáo M, N2 đã thi hành xong quyết định và thuộc trường hợp được coi là chưa bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, qua đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo M và bị cáo N2 không nghiêm. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, cần buộc bị cáo M chịu mức hình phạt cao nhất và bị cáo N2 phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại trong vụ án. Đối với bị cáo Ô là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án, bị cáo Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn các bị cáo khác nên cần áp dụng mức hình phạt đối với Ô và bị cáo Đ thấp hơn các bị cáo khác là phù hợp.
[5] Đối với tài sản là điện thoại di động, xe mô tô của các bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Công an huyện D trả cho các bị cáo là phù hợp. Đối với số tiền 9.310.000 đồng các bị cáo sử dụng để đánh bạc cần tịch thu ngân sách Nhà nước. Đối với 02 bộ bài tây là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cần buộc các bị cáo Đoàn Thị M, Trần Thị S1, Phạm Văn Đ, Nguyễn Thành N2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Đối với bị cáo Đoàn Văn Ô là người già (trên 60 tuổi) nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đoàn Văn Ô là phù hợp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố các bị cáo Đoàn Thị M, Trần Thị S1, Phạm Văn Đ, Nguyễn Thành N2, Đoàn Văn Ô phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Thị M 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng);
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N2 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng);
- Xử phạt bị cáo Trần Thị S1 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng);
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ và bị cáo Đoàn Văn Ô mỗi bị cáo 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng);
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 9.310.000 đồng (Chín triệu, ba trăm mười nghìn đồng) các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc (số tiền này đã nộp vào tài khoản của Công an huyện D mở tại Kho bạc Nhà nước huyện D, theo Giấy nộp tiền ngày 28/8/2023 của Ngân hàng V Chi nhánh B1 – Phòng G).
- - Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây, mỗi bộ 52 lá bài hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh đang quản lý (Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 14/11/2023 giữ Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh).
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đoàn Văn Ô. Buộc các bị cáo Đoàn Thị M, Trần Thị S1, Phạm Văn Đ, Nguyễn Thành N2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 35, Điều 50, điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn Đ. Áp dụng phạt tiền là hình phạt chính xử phạt các bị cáo như sau:
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Sỹ |
Bản án số 132/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 132/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
