Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2023/HSST

Ngày: 27 - 10 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Thanh Bình

2. Ông Bùi Văn Mão

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Quỳnh Anh, Thư ký - Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Bùi Hoàng Thao - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và Tên: Nguyễn Đức T. Tên gọi khác: Không; sinh năm 1975 tại Ninh Bình; Nơi cư trú: Số nhà I, ngõ G, đường N, phố V, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Xuân T1 và con bà Phạm Thị H; Vợ: Trần Thị H1; Con: có có 1 con sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Ngày 09/5/2000, Công an thị xã N, tỉnh Ninh Bình lập danh chỉ bản số 608 về việc sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 17/01/2005, Ủy ban nhân dân thị xã N ra Quyết định số 104/QĐ-UB, đưa người nghiện ma túy vào Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục LĐXH tỉnh N thời hạn 24 tháng; Ngày 24/4/2009, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 04/10/2011, Công an phường T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25, phạt tiền 500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 14/12/2011, Công an phường T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30, phạt tiền 500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 03/01/2012, Ủy ban nhân dân thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08, đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng;

Ngày 16/3/2016, Công an thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 58, phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi Xâm hại đến sức khỏe người khác; Ngày 12/4/2017, Chủ tịch UBND phường T, thành phố N quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường theo nghị định 111/CP, thời hạn 3 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 30/10/2018, Công an phường Đ, thành phố N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 129, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 23/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình ra Quyết định số 21/QĐ-TA, đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng; Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/6/2023 đến ngày 23/6/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N đến nay, có mặt.

Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn N (Vắng mặt.
  2. Anh Đặng Văn H2 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 15/6/2023, T gặp một người nam giới ở khu vực chùa Đ, phường T, thành phố N (T không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể). Do trước đây quen và biết người nam giới này nghiện ma túy Heroine nên T hỏi người này biết chỗ mua ma túy Heroine không, người này nói “hiện giờ không có, đưa số điện thoại đây khi nào có thì gọi”. Thuận đọc số điện thoại cho người này, sau đó đi về nhà. Đến khoảng 15 giờ 25 phút cùng ngày, có số điện thoại 0927.835.359 gọi cho T và nói “có đồ rồi lên em bán cho”, T hiểu người nam giới lúc sáng gọi bán ma túy nên đồng ý. Người này hẹn T đến ngõ A, đường L, phố P, phường P để bán ma túy. T đi bộ từ nhà đến điểm hẹn sau đó gọi điện lại vào số 0927.835.359 thì thấy một người thanh niên mặc quần áo màu đen, mặt đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm đứng gần T nghe điện thoại. Người này nói “đây” rồi tắt điện thoại đi, T nhận ra không phải người nam giới lúc sáng, nhưng vẫn đồng ý mua ma túy của người thanh niên không quen biết. T đưa số tiền 200.000 đồng, người thanh niên cầm tiền sau đó dẫn T đi bộ vào phía trong ngõ khoảng 100 mét và chỉ cho T một chiếc khẩu trang màu trắng quận tròn để ở dưới đất nói “đồ đấy”, T hiểu đây là ma túy nên cầm trên tay phải sau đó đi bộ về nhà để sử dụng, còn người thanh niên bán ma túy điều khiển xe mô tô bỏ đi. Khoảng 16 giờ 30 phút, khi T đi ra ngoài đầu ngõ A, đường L, phố P, phường P thì bị tổ công tác Công an phường P kiểm tra, quá trình kiểm tra T đã tự giác giao nộp chiếc khẩu trang quận tròn bên trong có ma túy đang cầm trên tay phải. Cơ quan Công an mở khẩu trang ra bên trong có 01 gói nhỏ giấy

bạc màu trắng, mở gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, T khai nhận đây là ma túy H3 vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói nhỏ có đặc điểm trên theo đúng quy định của pháp luật, đưa T cùng vật chứng và mời người làm chứng về trụ sở Công an phường P bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia lắp sim số 0346.407.793.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng trong gói giấy bạc màu trắng được gói bên ngoài bằng khẩu trang y tế màu trắng thu giữ của T có khối lượng 0,23 gam ký hiệu M gửi đi giám định để xác định khối lượng ma túy, loại ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 512/KL-KTHS-MT ngày 22/6/2023 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2267 gam, là ma túy, loại Heroine (H). Heroine (H3) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ Luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”. H4 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,1718 gam, là ma túy loại Heroine (Heroin); Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 512/KL-KTHS-MT.

Tại bản cáo trạng số 121/CT-VKSNDTPNB ngày 03/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 18 đến 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/6/2023.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS); Tịch thu tiêu hủy 0,1718 gam Heroine còn lại sau giám định cùng vỏ gói ban đầu và phong bì niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 phong bì niêm phong ban đầu, 01 khẩu trang màu trắng, 01 vỏ giấy bạc ban đầu.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia lắp sim số 0346.407.793.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Kết luận giám định số 512/KL-KTHS-MT ngày 22/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh N. Như vậy hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 15/6/2023 tại khu vực ngõ A, đường L, phố P, phường P, thành phố N, bị cáo Nguyễn Đức T có hành vi cất giấu trái phép 0,2267 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân bị phát hiện bắt quả tang.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma tuý; Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự đồng thời biết rất rõ tác hại của ma túy và việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma tuý bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân; tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo đã bị Toà án xét xử và cơ quan hành chính xử phạt hành chính nhiều lần. Tuy đã được xoá án tích, nhưng xác định là có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù cách ly xã hội một thời gian tương xứng với hành vi mà bị cáo đã

thực hiện mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích vụ lợi vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1718 gam Heroine còn lại sau giám định cùng vỏ gói ban đầu và phong bì niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 phong bì niêm phong ban đầu, 01 khẩu trang màu trắng, 01 vỏ giấy bạc ban đầu là vật nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia lắp sim số 0346.407.793 bị cáo dùng liên lạc để mua ma túy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[6] Các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc số ma túy Heroin thu giữ, bị cáo Nguyễn Đức T khai ngày 15/6/2023 mua của một người thanh niên sử dụng số điện thoại 0927.835.359 mặc quần áo màu đen, mặt đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm, T không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người này. Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao 0927.835.359 là chị Lê Thị Thùy G, sinh năm 2001, trú tại xã C, huyện M, thành phố Hà Nội. Chị G khai đăng ký và sử dụng số điện thoại trên từ tháng 11/2022 đến tháng 03/2023 thì không sử dụng nữa do bị rơi mất. Hiện tại chị G không sử dụng số điện thoại này và cũng không quen biết T do đó không có cơ sở để điều tra làm rõ.

- Đối với người nam giới T gặp buổi sáng ngày 15/6/2023 để hỏi mua ma túy. Quá trình điều tra T khai quen biết do cùng chấp hành án phạt tù trong trại giam N1 trước đây nhưng không biết tên tuổi, lai lịch của người này. Do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xác minh làm rõ.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[8] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 15/6/2023.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,1718 gam Heroine còn lại sau giám định cùng vỏ gói ban đầu và phong bì niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 phong bì niêm phong ban đầu, 01 khẩu trang màu trắng, 01 vỏ giấy bạc ban đầu.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia lắp sim số 0346.407.793.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/10/2023 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDtỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSNDTP Ninh Bình;
  • - Chi Cục THADS thành phố Ninh Bình;
  • - Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - THA hình sự
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2023/HSST ngày 27/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 132/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger