|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2024/HS-ST Ngày 20-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Ngôn – Giáo viên nghỉ hưu.
- Bà Dương Thị Hoa – Giáo viên.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2024/TLST-HS ngày 06/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2024/QĐXXST-HS ngày 23/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/HS-QĐ ngày 06/6/2024 đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 02/5/2007; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 02/4/2024 bị Công an thị xã V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích bằng hình thức phạt tiền 3.250.000 đồng. Bị cáo đầu thú, không bị tạm giữ, không bị tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Thân Thị Thúy V1, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
- Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1972; có mặt.
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1975; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- Bị hại: Cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 12/8/2010; địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1991; có mặt.
- Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1987; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1965; địa chỉ: T, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Đại diện Đoàn thanh niên xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 02/5/2007, trú tại thôn T, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 12/8/2010, trú tại thôn H, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là người cùng xã và biết nhau. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 02/3/2024, Nguyễn Ngọc V đi bộ ở ngã ba thôn H, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang gặp cháu Nguyễn Văn D điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu Grant, màu đen đi tới nên xin đi nhờ xe để đến tổ dân phố R, Phường T, thị xã V chơi thì cháu D đồng ý. Cháu D điều khiển xe đạp điện chở V ngồi sau, trên đường đi V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của cháu D mang đi bán lấy tiền chi tiêu. V bảo cháu D ngồi sau xe ôm ba lô cho V còn V điều khiển xe, cháu D đồng ý. V điều khiển xe chở cháu D đi đến sân bóng chuyền thuộc tổ dân phố R, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thì dừng xe lại, bảo cháu D cho mượn xe đi mua thuốc lá để hút và giao ba lô cho cháu D cầm và đứng đợi V. Khoảng 19 giờ cùng ngày, V điều khiển xe đạp điện của cháu D đi mua thuốc lá hút rồi quay lại trả xe cho cháu D để tạo niềm tin. Lúc này, V nói dối cháu D cho mượn xe để mang ba lô trả bạn rồi đem xe trả lại thì cháu D đồng ý giao xe và trả lại ba lô cho V. Sau đó, V điều khiển xe đạp điện của cháu D đi đến cửa hàng mua bán xe đạp điện của ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1965, trú tại tổ dân phố V, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để bán xe. Tại đây, V nói dối ông T1 xe đạp điện là tài sản của V rồi bán cho ông T1 lấy 2.000.000 đồng. Bán xe xong, V bỏ đi chơi điện tử và chi tiêu cá nhân hết số tiền bán xe của cháu D.
Ngày 05/3/2024, cháu Nguyễn Văn D cùng người đại diện theo pháp luật đã trình báo hành vi chiếm đoạt xe đạp điện của V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V.
Cùng ngày 05/3/2024, V biết hành vi phạm tội bị phát hiện nên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V đầu thú khai nhận hành vi phạm tội như
nêu trên. Tiếp đó, Cơ quan điều tra đã thu giữ của ông T1 01 xe đạp điện nhãn hiệu Grant màu đen đã mua của bị cáo V.
Ngày 06/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V định giá xác định trị giá chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Grant bị cáo V chiếm đoạt của cháu D ngày 02/3/2024.
Tại Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 06/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V kết luận: 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Grant bị cáo V chiếm đoạt của cháu D ngày 02/3/2024 trị giá 3.000.000 đồng.
Trong các ngày 09/3/2024; 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V cho cháu Nguyễn Văn D và ông Nguyễn Văn T1 nhận dạng người qua bản ảnh, trong bản ảnh đưa ra nhận dạng có ảnh của bị cáo V để xác định người chiếm đoạt xe đạp của cháu D và người bán xe đạp cho ông T1 vào ngày 02/3/2024. Kết quả nhận dạng, cháu D nhận ra V là người chiếm đoạt xe đạp điện, ông T1 nhận ra V là người bán xe đạp điện cho ông T1 như nêu trên.
Kết quả điều tra, xác định chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Grant thu giữ trên là tài sản của cháu D do bố mẹ mua cho, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cháu D theo quy định pháp luật.
Trách nhiệm dân sự: ông T1 đã được ông Nguyễn Ngọc T (bố bị cáo V) bồi thường lại số tiền 2.000.000 đồng. Hiện cháu D cùng người đại diện theo pháp luật và ông T1 không yêu cầu bị cáo V bồi thường khoản tiền gì khác. Ông T không yêu cầu bị cáo V hoàn trả số tiền đã bỏ ra bồi thường thay bị cáo.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc V 06 tháng đến 08 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo đang độ tuổi vị thành niên, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông T1 đã được ông Nguyễn Ngọc T (bố bị cáo V) bồi thường lại số tiền 2.000.000 đồng. Hiện cháu D cùng người đại diện theo pháp luật và ông T1 không yêu cầu bị cáo V bồi thường khoản tiền gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn T1 vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, đại diện Đoàn thanh niên xã T vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[3] Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo, của người liên quan trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 19 giờ ngày 02/3/2024, tại khu vực sân bóng chuyền thuộc tổ dân phố R, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; sau khi được cháu Nguyễn Văn D (là người dưới 16 tuổi) cho đi nhờ xe đạp điện, Nguyễn Ngọc V đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe đạp điện của cháu D. V đã dùng thủ đoạn gian dối, nói dối cháu D cho mượn xe đạp điện nhãn hiệu Grant, màu đen, trị giá 3.000.000 đồng để đi trả đồ cho bạn rồi đem xe trả, cháu D tin V nói thật nên đồng ý giao xe cho mượn. Sau đó, V điều khiển xe đạp điện của cháu D đi đến bán cho ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1965, trú tại tổ dân phố V, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang lấy 2.000.000đồng. Toàn bộ số tiền bán xe đạp điện chiếm đoạt được V chi tiêu cá nhân hết.
[4] Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố Nguyễn Ngọc V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.
[5] Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Ngày 02/4/2024 bị Công an thị xã V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích.
[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo lần đầu thực hiện hành vi phạm tội, tội phạm thực hiện là tội ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; tác động bố đẻ bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (ông T1), nên được hưởng các tình tiết: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Đầu thú” quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm bị cáo V chiếm đoạt tài sản của cháu D thì cháu D là người dưới 16 tuổi (13 tuổi 06 tháng 20 ngày tuổi) nên phải chịu tình tiết “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[8] Bị cáo chưa thành niên, tuy nhiên, bị cáo thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không chấp hành đúng quy định đối với trường hợp được tại ngoại, bị cáo có nhân thân xấu nên cần xử phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[9] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo đang độ tuổi vị thành niên, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông T1 đã được ông Nguyễn Ngọc T (bố bị cáo V) bồi thường lại số tiền 2.000.000 đồng. Hiện cháu D cùng người đại diện theo pháp luật và ông T1 không yêu cầu bị cáo V bồi thường khoản tiền gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[11] Đối với ông T1, khi mua xe đạp điện của bị cáo V không biết là tài sản chiếm đoạt của người khác nên không vi phạm pháp luật.
[12] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
[13] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[14] Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc V 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Trường |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 132/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo
