Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2024/HS-ST

Ngày : 19/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Bảo Lâm
  • 2/ Bà Phạm Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Lợi - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 135/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1994 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: G Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Quản lý khách sạn; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Kim C (Chết) và bà: Phạm Thị K; Có vợ: Lê Ánh N và 03 con: Lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ: 05/12/2023 đến ngày 14/12/2023 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Quàng Thị K1, sinh năm 2003; Địa chỉ: Bản P, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
  2. Chị Lường Thị T, sinh năm 2004, Địa chỉ: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

2

Vào lúc 21 giờ 30 phút, ngày 5/12/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Công an quận T kiểm tra khách sạn L tại địa chỉ số G Â, Phường A, quận T do Nguyễn Văn B quản lý kinh doanh, bắt quả tang việc mua bán dâm cụ thể như sau: Phòng 404 gồm: Khách mua dâm tên Trần Tiến D và gái bán dâm tên Lường Thị T. Khi vừa thực hiện việc mua bán dâm xong thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện. D đã trả tiền mua dâm 500.000 đồng và cho T thêm 100.000 đồng. Phòng 302 gồm: Khách mua dâm tên Trần Mạnh H và gái bán dâm tên Quàng Thị K1. Khi vừa thực hiện việc mua bán dâm xong thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện. H đã trả tiền mua dâm 500.000 đồng cho K1.

Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Văn B thuê khách sạn L tại địa chỉ số G Â, Phường A, quận T từ tháng 4/2022 với giá 65.000.000 đồng/tháng để hoạt động kinh doanh cho thuê phòng. B là người trực tiếp quản lý, điều hành khách sạn. Khách sạn L có 22 phòng và hoạt động thuê phòng theo giờ với giá từ 80.000 -100.000 đồng/1 giờ, ngày với giá từ 300.000 - 450.000 đồng /1 ngày hoặc cho thuê tháng với giá từ 5.000.000 – 9.000.000 đồng/tháng. Do tình hình kinh doanh gặp khó khăn, từ tháng 10/2023, B đã cho gái mại dâm thuê phòng khách sạn L để ở với mục đích hoạt động mại dâm tại khách sạn nhằm thu lợi từ việc thu tiền gái mại dâm thuê phòng để ở trọ và thu tiền phòng đối với khách đến mua dâm tại khách sạn. Việc mua bán dâm là do gái bán dâm và khách mua dâm tự liên hệ và thỏa thuận với nhau. Khi thực hiện hành vi mua bán dâm với nhau không phải thông qua B, B cũng không hưởng lợi từ tiền mua bán dâm. Trung bình mỗi ngày B thu lợi bất chính khoảng 600.000 – 800.000 đồng/ngày. B chứa mại dâm được 30 ngày nên thu lợi bất chính khoảng 18.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • - 02 bao cao su đã qua sử dụng.
  • - Tiền mua bán dâm 1.100.000 đồng gồm 600.000 đồng thu giữ của T và 500.000 đồng thu giữ của K1.
  • - 01 sổ quản lý lưu trú khách sạn.
  • - 01 đầu ghi lưu trữ dữ liệu camera.
  • - Số tiền 15.000.000 đồng do B tự nguyện nộp lại để khắc phục hậu quả thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội.

Đối với Lường Thị T, Quàng Thị K1 là gái bán dâm và Trần Tiến D, Trần Mạnh H là người mua dâm, Công an quận T đã ra quyết định xử phạt hành chính.

Đối với các đối tượng có hành vi đăng hình ảnh các gái bán dâm lên mạng do không xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không có cơ sở xác minh, xử lý.

3

Tại bản cáo trạng số 136/CT-VKSTB ngày 01 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo từ 03 năm đến 05 năm. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Văn B, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo bị cáo Nguyễn Văn B là quản lý của khách sạn L đã có hành vi sử dụng nơi làm việc của mình cho hai đôi nam nữ mua, bán dâm độc lập với nhau trong cùng một khoảng thời gian, đã vào phạm tội “Chứa mại dâm”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, nó không những trực tiếp xâm phạm đến đạo đức, thuần phong mỹ tục, đời sống văn hóa mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo đã thành niên, đủ

4

khả năng nhận thức được hành vi của mình là bị pháp luật ngăn cấm và trừng trị nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo sống lương thiện, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính, bị cáo có nhân thân tốt, đang là lao động chính trong gia đình nuôi 03 con nhỏ, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, đã bị tạm giam một thời gian và trong thời gian được tại ngoại không có vi phạm pháp luật, xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo khai thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội được khoảng 18.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng, tuy nhiên không có tài liệu gì chứng minh số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính ngoài lời khai của bị cáo, bị cáo cũng tự nguyện nộp lại số tiền 15.000.000 đồng để khắc phục hậu quả thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • - 02 bao cao su đã qua sử dụng là vật không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
  • - Số tiền 1.100.000 đồng gồm 600.000 đồng thu giữ của chị T và 500.000 đồng thu giữ của chị K1. Hội đồng xét xử xét thấy số tiền trên là do hành vi mua bán dâm mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - 01 sổ quản lý lưu trú khách sạn là chứng cứ của vụ án và có thể lưu trong hồ sơ vụ án nên cần lưu vào hồ sơ vụ án.
  • - 01 đầu ghi lưu trữ dữ liệu camera là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
  • - Số tiền 15.000.000 đồng bị cáo tự nguyện nộp lại để khắc phục hậu quả thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

5

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47; điểm b, c khoản 2 Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt: Nguyễn Văn B 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

Thời gian thử thách 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 2 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/12/2023 đến ngày 14/12/2023.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn B số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

[2] Tịch thu và tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.

  • - Lưu hồ sơ vụ án sổ quản lý lưu trú khách sạn.
  • - Trả lại cho bị cáo 01 đầu ghi lưu trữ dữ liệu camera.
  • (Tình trạng vật chứng theo như Biên bản bàn giao vật chứng số 150/BB/2024 ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng. (Theo Biên lai thu tiền số 0002215 ngày 12/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh).

6

  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.100.000 (Một triệu một trăm nghìn) đồng (Theo Giấy nộp tiền số No 10519566 ngày 04/7/2024 tại Ngân hàng TMCP C1 chi nhánh 12 – TP.)

[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ

Đã giải thích chế định án treo.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - chứa mại dâm

  • Số bản án: 132/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Chứa mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chứa mại dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger