|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 132/2024/DS-ST Ngày: 18-6-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng thuê và quản lý căn hộ. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Lan.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Vân
Ông Nguyễn Đình Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trâm là Thư ký tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Võ Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2023/TLST-DS ngày 11/5/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng thuê và quản lý căn hộ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXX-ST ngày 06 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 105/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự :
* Nguyên đơn: - Ông Nguyễn Thành H; sinh năm: 1970
- Bà Nguyễn Thị Nguyệt N; sinh năm: 1969
Cùng địa chỉ: P tòa A khu đô thị T, N, Quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Minh T, sinh năm: 1978.
Địa chỉ: A đường số H, phường A, Quận G, TP . Hồ Chí Minh.
(Theo văn bản ủy quyền công chứng số: 694.2023, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/02/2023) (có mặt).
* Bị đơn: - Công ty cổ phần F
Địa chỉ trụ sở: Khu S, khu D - C, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T1 - Giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Văn H1, sinh năm: 1994
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.
(Theo văn bản uỷ quyền số: 60/GUQ-PGĐ ngày 17/6/2024 của Công ty cổ phần F) (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 02 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà ông Hoàng Minh T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 06/06/2017, vợ chồng ông H (Bên B) có ký Hợp đồng thuê và quản lý tài sản 403/2017/HĐTCH - FLCQN - BĐ với Cty Cổ phần FLC Quy Nhơn Golf và F (Bên A). Vợ chồng ông H đã nhận bàn giao căn hộ từ chủ đầu tư và đã bàn giao lại cho bị đơn.
Theo Điều 2 của hợp đồng thuê và quản lý tài sản, vợ chồng ông H đồng ý cho Cty Cổ phần F và R (Gọi tắt là F) thuê căn hộ của vợ chồng ông tại căn số 03 tầng 4, có diện tích 66,3m2, thuộc Dự án Khu đô thị S tọa lạc tại Khu K, xã N, Thành phố Q, Tỉnh Bình Định do chủ đầu tư là Công ty Cổ phần T3 đầu tư, phát triển.
Về giá thuê thì các bên thỏa thuận căn cứ trên giá tính tiền thuê được qui định tại khoản 1.1.11 của Điều 1 Hợp đồng là: 2.151.572.136 đồng (Hai tỷ, một trăm năm mươi mốt triệu, năm trăm bảy mươi hai ngàn, một trăm ba mươi sáu đồng).
Theo Điều 3 của cả hai hợp đồng thuê thì trong vòng 10 năm đầu tiên (Thời hạn đảm bảo thu nhập), bên thuê - F phải trả tiền thuê theo Giá thuê bằng 85% lợi nhuận/năm, nhưng trong mọi trường hợp là không thấp hơn 10%/năm giá tính tiền thuê (Giá thuê định mức) nêu trên, sau khi trừ đi các khoản thuế (nếu có) mà bên A phải nộp cho nhà nước.
Về phương thức thanh toán là chuyển khoản. Thời hạn tính tiền thuê theo quy định tại Điều 4.2 hợp đồng này cụ thể như sau:
- - Giá thuê của 12 tháng đầu tiên kể từ ngày bắt đầu thì bên thuê thanh toán cho tôi một lần trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày tôi thanh toán cho chủ đầu tư 95% giá bán căn hộ (Sau khi trừ đi các khoản khuyến mãi, chiết khấu bán hàng và các khoản giảm giá nếu có).
- - Giá thuê của các năm tiếp theo được bên thuê thanh toán thành 02 kỳ trong một năm vào tháng 01 và tháng 7. Kỳ tạm ứng vào tháng 07 được tạm ứng cho các tháng đã thuê từ tháng 01 đến hết tháng 06 của năm dương lịch đó. Kỳ thanh toán tháng 01 tạm ứng cho các tháng đã thuê từ tháng 07 đến tháng 12 của năm liền trước đó.
Thời hạn thuê theo thỏa thuận tại Điều 5 hợp đồng là kể từ ngày ký hợp đồng thuê cho đến ngày 23/4/2065 là ngày cuối cùng của thời hạn 50 năm hoạt động của dự án theo giấy Chứng nhận đầu tư số 4370744030 do UBND Tỉnh B cấp lần đầu ngày 24/04/2015.
Hợp đồng mà hai bên ký kết có tiêu đề là Hợp đồng thuê và Quản lý tài sản. Nghĩa là, chúng tôi cho bên F thuê lại căn hộ và đi kèm là trách nhiệm bảo quản, quản lý tài sản (nội thất) có trong căn hộ mà vợ chồng ông H mua của chủ đầu tư Cty CP Tập đoàn F1. Danh mục tài sản được nêu trong phụ lục đính kèm hợp đồng mua bán căn hộ. Đó là những tài sản mà chủ đầu tư đã cam kết căn hộ khi vợ chồng ông mua sẽ có. Cụ thể các tài sản có trong căn hộ, xin nêu và tóm tắt như sau:
- - Phòng bếp: ngoài vật liệu sàn, tường, len chân tường, trần, thì gồm có các đồ rời mới 100%: Tủ bếp; Tủ lạnh (LG); Chậu rửa (inox cao cấp); Vòi rửa bat nóng lạnh cao cấp; Tủ âm tường.
- - Phòng vệ sinh: ngoài vật liệu hoàn thiện sàn, tường, trần, thì có các thiết bị vệ sinh mới 100% như: Lô giấy vệ sinh (inox cao cấp); T2 treo khăn tắm (inox cao cấp); Xi bệt WC phòng ngủ (một khối); Vòi xịt xí (là bộ V cao cấp); Chậu rửa đặt nổi; Vòi lavabo; Vách tắm đứng (kính cường lực); Bộ T4 gắn tường (Sen cây kép); Móc treo áo (móc đôi, inox cao cấp); Phễu thoát sàn (inox cao cấp); Quạt hút mùi âm trần (cao cấp); Tủ Lavabo (gương hình dạng theo thiết kế).
- - Phòng ngủ - khách: Ngoài vật liều hoàn thiện sàn, len chân tường, tường, trần, thì có thảm (Cao cấp theo thiết kế), thì có các vật dùng rời như sau: Giường ngủ (Gỗ công nghiệp cao cấp); Tủ Tab đầu giường (Gỗ công nghiệp cao cấp); Đèn đầu giường; Ghế sofa - bàn nước (Ghế khung gỗ tự nhiên, đệm bọc vải, bàn nước gỗ); Tivi (LG); Rèm (02 lớp); Bàn ghế làm việc (Chất liệu cao cấp)
- - Khu vực ban công: ngoài vật liệu hoàn thiện, thì có các đồ rời như sau: Bàn ghế (nhựa cao cấp)
- - Đèn trang trí: gồm đèn âm trần (Led) của các phòng khách, ngủ, bếp, tiền sảnh, vệ sinh và Đ hát trần (Led dây); Đèn gương phòng vệ sinh; Đèn gắn trần ban công (L); Đèn gắn tường ban công (L)
- - Thiết bị điện: H4
- - Điều hòa: sử dụng hệ thống điều hòa cao cấp.
Trên đây là những tài sản phải có trong căn hộ của vợ chồng ông H khi cho bên thuê là F thuê và quản lý tài sản. Tuy nhiên, tiêu đề là Hợp đồng thuê và Quản lý tài sản nhưng nội dung chỉ toàn điều khoản về thuê là có lợi cho bên thuê, mà không có bất kỳ điều khoản qui định về trách nhiệm của F trong việc bảo quản, quản lý tài sản rõ ràng hợp đồng thuê và Quản lý tài sản do bên thuê là F trực tiếp soạn thảo, mà khi hai bên ký kết thì vợ chồng ông, bà không có quyền yêu cầu điều chỉnh một số điều khoản của hợp đồng là không công bằng, hoàn toàn bất lợi, không bảo đảm quyền lợi cho nguyên đơn.
Thực tế, tiền thuê vợ chồng ông H thực nhận chỉ là những tháng còn lại của năm 2017 sau khi ký hợp đồng mua bán căn hộ với chủ đầu tư và của năm 2018, 2019 và kỳ 1 của 2020. Tiền thuê thay vì đủ 10%/năm thì bị trừ đi khoản thuế thu nhập cá nhân. Tiền thuê kỳ 2 còn lại của năm 2020, các khoản tiền thuê của năm 2021 và 2022 thì Công ty F cũng không thanh toán cho vợ chồng ông H như đã cam kết thời hạn đảm bảo thu nhập 10 năm đầu tiên. Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu F thanh toán các khoản tiền thuê còn thiếu nhưng vẫn không được giải quyết.
Do đó, tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn yêu cầu F phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền như sau:
- +Tổng tiền thuê của kỳ 2/2020 và của năm 2021, 2022 tính như sau:
- = ½ x 10% x 2.151.572.136 đồng + 2 x 10% x 2.151.572.136 đồng
- = 107.578.606,8 đồng + 2 x 215.157.213,6 đồng
- = 537.893.034 đồng
- =>làm tròn là: 537.900.000 đồng (Năm trăm ba mươi bảy triệu, chín trăm ngàn đồng) chưa trừ các khoản thuế theo quy định pháp luật.
- + Tiền lãi do chậm thanh toán tiền thuê tính đến ngày xét xử (ngày 18/6/2024) là: 158.293.850 đồng (một trăm năm mươi tám triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, tám trăm năm mươi đồng). Lãi suất được tính theo quy định tại Điều 10.1 của Hợp đồng thuê và quản lý tài sản. Hiện nay lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V1) là 9,5%.
Tổng số tiền mà F phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Thành H và bà Nguyễn Thị Nguyệt N (tính đến ngày xét xử) sau khi trừ đi các khoản thuế theo quy định là: 641.797.535 đồng, lấy tròn số là: 641.797.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi mốt triệu, bảy trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
* Đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ông Trần Văn H1 trình bày tại bản khai ngày 31/12/2023:
Tôi là đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần F (gọi tắt là F) là bị đơn trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản” với nguyên đơn ông Nguyễn Thành H và Bà Nguyễn Thị Nguyệt N.
Tôi xin trình bày các nội dung tự khai về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Năm 2017, F cùng ông Nguyễn Thành H, bà Nguyễn Thị Nguyệt N ký kết hợp đồng thuê và quản lý tài sản số 403/2017/HĐTCH-FLCQN-BĐ về việc thuê và quản lý căn hộ số 403.
Sau khi ký kết hợp đồng, F đã thanh toán tiền thuê căn hộ các đợt như sau:
| Ngày thanh toán | Tên khách hàng | Nội dung thanh toán | Số tiền |
|---|---|---|---|
| 07/9/2017 | Nguyễn Thành Hưng | TT tiền thuê năm 2017 - Căn hộ 403 FLCQN | 112,957,537 |
| 03/8/2018 | Nguyễn Thành Hưng | TT tiền thuê Đợt 1 năm 2018 HĐT ký năm 2017 | 96,520,747 |
| 25/4/2019 | Nguyễn Thành Hưng | TT tiền thuê Đợt 2/2018 HĐ ký năm 2017 - CH 403 | 96,820,747 |
| 23/7/2019 | Nguyễn Thành Hưng | TT tiền thuê Đợt 1/2019 CH 403 FLC Luxury Quy Nhơn | 96,520,747 |
| 31/7/2020 | Nguyễn Thành Hưng | TT tiền thuê Đợt 2/2019 CH 403 FLC Luxury Quy Nhơn | 16,820,747 |
| 20/7/2021 | Nguyễn Thành Hưng | TT tiền thuê năm 2020 CH 403 DA Luxury | 30,000,000 |
Đối với giá thuê năm 2020 và 2021:
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng thuê và quản lý tài sản, cả nước nói chung và F nói riêng đã phải chịu những ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề bởi sự kiện bất khả kháng là dịch Covid-19 kéo dài từ đầu 2020 với quyết định số 447/QĐ-TTg ngày 01/04/2020 của thủ tướng chính phủ về việc công bố dịch Covid 19 tại Việt nam cho đến tận 16/02/2022 thì Văn phòng C3 mới ban hành thông báo số 43/TB-VPCP về việc cho phép mở cửa lại hoạt động du lịch từ 15/03/2022.
Trong khi thực tế, thời điểm ký Hợp đồng thuê và quản lý tài sản được ký kết vào thời điểm năm 2017, là thời điểm được đánh giá là thời kỳ phát triển rực rỡ của du lịch Việt Nam. Vì vậy, trên cơ sở bối cảnh phát triển du lịch tiềm năng, F đã cam kết lợi nhuận 10%/năm. Theo đó, sau khi khai trương và hoạt động, F cũng đã chi trả giá thuê theo đúng cam kết bằng tiền mặt tới Nguyên đơn. Nhưng bởi sự bùng phát liên tục của dịch C cùng với hàng loạt lệnh kiểm soát/cấm vận/hạn chế di chuyển tại các khu vực trong nước và quốc tế là sự kiện khách quan đã khiến hoàn cảnh thực hiện Hợp đồng thuê và quản lý tài sản năm 2020, 2021 có sự thay đổi cơ bản so với thời điểm Hợp đồng thuê và quản lý tài sản được giao kết. Tuy nhiên F không thể chống chọi với ảnh hưởng nặng nề của đại dịch, vì thế F đề nghị Tòa án xem xét áp dụng quy định của trường hợp bất khả kháng do thay đổi hoàn cảnh khách quan đối với tiền thuê trong khoảng thời gian này.
Bên cạnh đó, tiền thuê năm 2021 và 2022, F đề nghị Tòa án căn cứ quy định tại Hợp đồng thuê để khấu trừ phần thuế mà F được giữ lại đối với khoản tiền thuê bao gồm: 5% thuế TNCN, 5%VAT và 300.000 VNĐ lệ phí môn bài.
Đối với yêu cầu tính lãi.
Đối với lãi chậm thanh toán Giá thuê của năm 2020 và năm 2021: Căn cứ khoản 2 Điều 351 BLDS 2015 F đề nghị miễn trách nhiệm dân sự trong hai năm dịch bệnh này.
Đối với yêu cầu tính lãi chậm thanh toán G thuê năm 2022: Đề nghị nguyên đơn làm rõ cách thức tính lãi, căn cứ áp dụng lãi suất.
Trên đây là toàn bộ nội dung tự khai của F đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu: Trong quá trình tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về việc thụ lý vụ án, thẩm quyền giải quyết vụ án, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, có thời hạn giải quyết vụ án, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, thời gian mở phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử và nguyên tắc xét xử. Tuy nhiên Thẩm phán đã vi phạm thời hạn xét xử. Đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Nguyệt N và ông Nguyễn Thành H. Buộc Công ty cổ phần F có nghĩa vụ thanh toán cho bà N và ông H các khoản tiền sau:
- - Tiền thuê của kỳ 2/2020 và tiền thuê của năm 2021, 2022 (sau khi trừ các khoản phí, thuế theo quy định) là: 483.503.731 đồng (Bốn trăm tám mươi ba triệu, năm trăm lẻ ba nghìn, bảy trăm ba mốt đồng).
- - Tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê tính đến ngày xét xử (ngày 18/6/2024) là: 158.293.805 đồng (Một trăm năm mươi tám triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, tám trăm lẻ năm đồng).
Tổng cộng là: 641.797.535 đồng, lấy tròn số là: 641.797.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi mốt triệu, bảy trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
- Về án phí DSST: Công ty cổ phần F phải chịu theo quy định pháp luật. Bà Nguyễn Thị Nguyệt N và ông Nguyễn Thành H không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Thành H và bà Nguyễn Thị Nguyệt N khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền thuê và quản lý căn hộ chưa thanh toán và tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê căn hộ. Căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Hội đồng xét xử xác định vụ án dân sự có quan hệ tranh chấp “Hợp đồng thuê và quản lý căn hộ” thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- + Về sự vắng mặt của đương sự: Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung tranh chấp:
- Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu Công ty Cổ phần F phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Nguyệt N và ông Nguyễn Thành H tiền thuê căn hộ chưa thanh toán (sau khi trừ thuế) theo quy định của Hợp đồng và tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê căn hộ theo quy định tại Điều 10.1 Hợp đồng thuê căn hộ tính đến thời điểm xét xử vụ án:
Xét quá trình thực hiện hợp đồng thuê và quản lý căn hộ số: 403/2017/HĐTCH-FLCQN-BĐ, Công ty cổ phần F đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê từ kỳ thứ 2/2020; tiền thuê cả năm 2021 và năm 2022. Căn cứ Điều 481 Bộ luật Dân sự quy định: “1. Bên thuê phải trả đủ tiền thuê đúng thời hạn đã thỏa thuận...”; khoản 2 điều 29 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định : “Nghĩa vụ của bên thuê là phải thanh toán đủ tiền thuê nhà ... theo thời hạn và phương thức thoả thuận trong hợp đồng”.
Qua xem xét, thẩm định tại chỗ thì căn hộ trên đã hoàn thành và đã được đưa vào sử dụng hoạt động kinh doanh, nên theo hợp đồng thuê và quản lý tài sản tại Điều 4 quy định về phương thức và thời hạn thanh toán thì Công ty cổ phần F đã vi phạm về thời hạn thanh toán tiền thuê cho vợ chồng ông H, bà N.
Trong quá trình làm việc, tại buổi hoà giải ngày 16/4/2024, bị đơn Công ty F thống nhất có việc chậm thanh toán cho nguyên đơn là đúng, tuy nhiên bị đơn cho rằng năm 2020 và năm 2021 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid nên Công ty F không thể chống chọi với ảnh hưởng nặng nề của đại dịch, vì thế Công ty F đề nghị Toà án xem xét áp dụng quy định của trường hợp bất khả kháng trong khoảng thời gian này và đề nghị miễn trách nhiệm dân sự trong hai năm dịch bệnh.
Xét lời khai của Công ty F, HĐXX không chấp nhận vì theo các điều khoản của Hợp đồng thuê và quản lý căn hộ đã được ký kết giữa các bên thì không quy định về trường hợp bất khả kháng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty cổ phần F đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê của kỳ 2 năm 2020; năm 2021 và năm 2022. Căn cứ Điều 481 Bộ luật Dân sự quy định: “1. Bên thuê phải trả đủ tiền thuê đúng thời hạn đã thỏa thuận...”; khoản 2 điều 29 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định : “Nghĩa vụ của bên thuê là phải thanh toán đủ tiền thuê nhà ... theo thời hạn và phương thức thoả thuận trong hợp đồng...”. Do đó, F đã vi phạm các điều 3, 4 của Hợp đồng thuê và quản lý tài sản; Điều 29 của Luật kinh doanh bất động sản; Điều 481 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp Điều 30 Luật kinh doanh bất động sản, Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 132 Luật Nhà ở nên HĐ xét xử chấp nhận.
Do nguyên đơn yêu cầu tính tiền thuê còn thiếu từ kỳ 2/2020; năm 2021, năm 2022 và tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê theo Điều 10.1 là đúng theo thoả thuận tại hợp đồng. Nhưng tại Điều 10.1 chỉ nêu chung chung áp dụng lãi suất vay vốn cá nhân kỳ hạn 12 tháng mà không nêu rõ lãi suất thấp nhất hay cao nhất nên căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 405 Bộ Luật dân sự, nguyên đơn yêu cầu Công ty F phải thanh toán tiền lãi với mức lãi suất 14,25%/năm (9,5 %/ năm x 150%) đối với khoản tiền thuê chậm thanh toán sau khi khấu trừ các loại phí, thuế. Cụ thể như sau:
Tiền thuê của kỳ 2/2020; năm 2021 và năm 2022 sau khi khấu trừ phí, thuế là: 483.503.731 đồng; Tiền lãi chậm thanh toán tính đến thời điểm xét xử (ngày 18/6/2024) là 158.293.805 đồng. Tổng cộng là: 641.797.535 đồng, lấy tròn số là: 641.797.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi mốt triệu, bảy trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
HĐXX xét thấy: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các điều 351, 353, 357, 472, 473, 474, 481 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Văn bản số 158/CV-CNBĐI-TCTH ngày 07/3/2023 của Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh B nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Công ty F đề nghị Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 351 BLDS miễn trách nhiệm dân sự trong hai năm dịch C1 là năm 2020 và năm 2021, không đồng ý trả lãi theo yêu cầu của nguyên đơn. Xét yêu cầu của bị đơn không phù hợp quy định pháp pháp luật, không được phía nguyên đơn chấp nhận nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận.
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 (ba triệu) đồng, bà Nguyễn Thị Nguyệt N và ông Nguyễn Thành H đã nộp tạm ứng, Công ty Cổ phần F phải chịu và có nghĩa vụ hoàn trả cho bà N, ông H số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng.
- Án phí Dân sự sơ thẩm: Theo Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án các đương sự phải chịu án phí như sau:
- - Công ty cổ phần F phải chịu án phí về trả tiền thuê, tiền lãi của tiền thuê chậm trả là: 29.672.000 (Hai mươi chín triệu, sáu trăm bảy mươi hai nghìn) đồng.
- - Ông Nguyễn Thành H và bà Nguyễn Thị Nguyệt N không phải chịu án phí DSST.
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu Công ty Cổ phần F phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Nguyệt N và ông Nguyễn Thành H tiền thuê căn hộ chưa thanh toán (sau khi trừ thuế) theo quy định của Hợp đồng và tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê căn hộ theo quy định tại Điều 10.1 Hợp đồng thuê căn hộ tính đến thời điểm xét xử vụ án:
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, điều 157, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 351, 353, 357, 472, 473, 474, 481 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành H và bà Nguyễn Thị Nguyệt N.
- Buộc Công ty cổ phần F phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Thành H và bà Nguyễn Thị Nguyệt N các khoản tiền sau: Tiền thuê và quản lý tài sản chưa thanh toán (kỳ 2/2020; năm 2021 và năm 2022) sau khi khấu trừ phí, thuế là: 483.503.731 đồng; Tiền lãi chậm thanh toán tính đến thời điểm xét xử (ngày 18/6/2024) là 158.293.805 đồng. Tổng cộng là: 641.797.535 đồng, lấy tròn số là: 641.797.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi mốt triệu, bảy trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong số tiền trên, Công ty cổ phần F phải chịu lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng thuê và quản lý tài sản số 403/2017/HĐTCH-FLCQN-BĐ ngày 06/6/2017 là 14,25%/năm (9,5%/năm x 150%).
- Không chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần F về việc miễn trách nhiệm dân sự trong năm 2020 và năm 2021 do dịch bệnh C1.
- Về án phí DSST:
- Công ty cổ phần F phải chịu 29.672.000 (Hai mươi chín triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn) đồng án phí.
- Về tiền tạm ứng án phí: H2 lại cho ông Nguyễn Thành H và bà Nguyễn Thị Nguyệt N 14.506.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0003729 ngày 11/5/2023
- Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng(ba triệu đồng), ông Nguyễn Thanh H3 và bà Nguyễn Thị Nguyệt N đã nộp tạm ứng. Công ty cổ phần F phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh H3 và bà Nguyễn Thị Nguyệt N 3.000.000 (Ba triệu đồng).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Ngọc Lan |
Bản án số 132/2024/DS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng thuê và quản lý căn hộ
- Số bản án: 132/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê và quản lý căn hộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THÀNH H - CÔNG TY F
