TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI Bản án số: 132/2024/HSST Ngày: 16/7/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Quách Đình Hoằng
Bà R’Cơm H'Myữ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Tiến L, T gọi khác: Đen; sinh ngày 19 tháng 4 năm 1998 tại Gia Lai;
Nơi thường trú: Thôn D, xã H, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nơi ở hiện tại: Số B đường L, Tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Thợ sắt; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L1, (Đã chết) và bà Trần Thị T1, sinh năm 1960; Bị cáo chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 2004, chưa có con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Tiến L bị tạm giữ từ ngày 23/9/2023 đến ngày 02/10/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Bị hại:
Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn D, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đặng Thị H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn D, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
2. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 2006. Địa chỉ: Thôn D, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Thanh N có anh Nguyễn Trung
T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn D, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Trung T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn D, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
3. Bà Trần Thị B, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn D, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tiến L và anh Nguyễn Thanh N (sinh năm 2004, trú Thôn D, xã T, TP ., tỉnh Gia Lai) có quan hệ quen biết nhau. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/9/2023, L điều khiển xe mô tô chở chị Nguyễn Thị Hồng V (sinh năm 2004, là người sống như vợ chồng với L) đến nhà anh N để dự tiệc sinh nhật anh N; khi đi, L mang theo 01 con dao dài 25cm, mũi nhọn cất giấu trong người. Cùng dự tiệc sinh nhật anh N có anh Đặng Quốc T3 (sinh năm 2004, trú Thôn D, xã T, TP ., là hàng xóm của anh N) và một số người khác. Khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi dự tiệc xong anh T3 đi ra ngoài cổng nhà anh N, thì xảy ra cãi nhau với bà Đoàn Thị L2 (sinh năm 1984, là mẹ của T3) nên L chạy ra can ngăn, kéo T3 lại. Trong lúc giằng co với nhau, L bị T3 đấm trúng vào mặt nên L nắm cổ áo định đánh T3; thì chị V đang đứng gần đó đến can ngăn. Lúc này, ông Nguyễn Trung T2 (sinh năm 1982, là hàng xóm sát nhà anh N), vợ ông T2 là bà Trần Thị B (sinh năm 1984) và ông Trần Văn Đ (sinh năm 1990, trú Thôn D, xã T, TP .) đang ngồi nói chuyện với nhau trong nhà ông T2; nghe có tiếng ồn ào, cãi nhau ở cổng nhà anh N, nên ông T2, bà B và ông Đ đi ra xem. Thấy L và T3 đã có uống rượu và đang giằng co với nhau, nên ông T2 vào can ngăn thì vô tình vung tay trúng vào người L và người chị V. Cho rằng ông T2 đánh chị V nên L bực tức to tiếng chửi ông T2, rồi lấy con dao đang giấu trong người ra cầm trên tay phải đe dọa ông T2. Thấy L đã có uống rượu, chửi bới to tiếng và cầm dao đe doạ, nên ông Đ bức xúc lao vào dùng tay đánh vào mặt L, thì bà Đặng Thị H (sinh năm 1972, là mẹ của anh N) ôm giữ ông Đ, bà B ôm giữ L từ phía sau để can ngăn. L vùng vẫy để thoát ra khỏi tay bà B, thì lưỡi dao vô tình trúng vào giữa ngón cái và ngón trỏ tay phải bà B, gây thương tích. Khi vừa thoát ra khỏi tay bà B, L giơ dao về phía trước thì đâm trúng vào đùi trái bà của H và đâm trúng vào bụng ông Đ, gây thương tích cho bà H và ông Đ. Ngay sau đó, bà H và ông Đ được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh G sơ cứu vết thương, điều trị thương tích; riêng bà B chỉ bị thương tích nhẹ, nên tự xử lý vết thương. Thực hiện hành vi gây thương tích xong, L bỏ đi về nhà cất giấu dao vào ba-lô của anh Bùi Tấn V1 (sinh năm 1992, trú Tổ C, phường Đ, TP ., là người trọ cùng dãy nhà trọ với L). Đến 06 giờ 30 phút ngày 23/9/2023, L đến Công an xã T, TP . đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên. Cùng ngày, anh V1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T giao nộp 01 con dao dài 25cm (lưỡi bằng kim loại dài 14cm, rộng 2,8cm, có khắc chữ USA Design 2008, mũi nhọn; cán bằng gỗ màu nâu dài 11cm), là dao L đã sử dụng gây thương tích cho bà H và ông Đông
Bà Đặng Thị H điều trị thương tích đến ngày 27/9/2023 thì ra viện; ông Trần Văn Đ điều trị thương tích đến ngày 29/9/2023 thì ra viện. Qua giám định, tại bản Kết luận số 529/KLTTCT-/TTPY ngày 29/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G, kết luận thương tích của bà H như sau:
“1/ Các kết quả chính:
- - 01 vết thương phần mềm nằm xiên + vết mổ mặt trước trong 1/3 dưới đùi trái.
- - 01 vết thương phần mềm hình chữ “V” mặt trước ngoài 1/3 giữa đùi trái gãy đứt một phần cơ tứ đầu đùi trái.
2/ Kết luận:
- - Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Thị H tại thời điểm giám định là 08% (tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
- - Cơ chế: Do sự tác động trực tiếp.
- - Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật sắc bén, mũi nhọn. do vậy, con dao được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P trưng cầu là vật phù hợp có thể gây ra thương tích nêu trên” (Bút lục số: 108, 109).
Qua giám định, tại bản Kết luận số 530/KLTTCT-/TTPY ngày 29/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G, kết luận thương tích của ông Đ như sau:
“1/ Các kết quả chính:
- - 01 vết thương phần mềm nằm dọc hố chậu phải.
- - 01 vết mổ đường trắng giữa bụng trên dưới rốn.
- - 01 vết mổ dẫn lưu góc hố chậu trái.
- - Vết thương thấu bụng gây thủng hồi tràng hai lỗ, thủng manh tràng hai lỗ đã xử lý.
2/ Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn Đ tại thời điểm giám định là 37% (ba mươi bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư
Ngày 30/11/2023, bà Đặng Thị H làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án và xử lý Nguyễn Tiến L theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đến ngày 25/01/2024 bà H đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự đối với L, nên không xác định bà H là người bị hại trong vụ án.
Bản Cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 13 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến L về tội: “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như những tình tiết nêu trên.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L với mức án từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù.
Về dân sự: Đã thoả thuận bồi thường xong
Vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ con dao lưỡi bằng kim loại dài 14cm, rộng 2,8cm, có khắc chữ USA Design 2008, mũi nhọn; cán bằng gỗ màu nâu dài 11cm).
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Đồng thời căn cứ vào bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 529/KLTTCT- TTPY và bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 530/KLTTCT- TTPY ngày 29/9/2023 của Trung tâm pháp y, Sở Y1 có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 22/9/2023, tại trước nhà anh Nguyễn Thanh N (sinh năm 2004, ở Thôn D, xã T, TP ., tỉnh Gia Lai), sau khi dự tiệc sinh nhật anh N và đã có uống rượu, thì Nguyễn Tiến L xảy ra giằng co, xô xát với anh Đặng Quốc T3 (sinh năm 2004, trú Thôn D, xã T, TP .). Ông Nguyễn Trung T2 (sinh năm 1982, là hàng xóm sát nhà anh N) đến can ngăn, thì vô tình vung tay trúng vào người L và người chị Nguyễn Thị Hồng V (sinh năm 2004, là người sống như vợ chồng với L), nên L bực tức lấy dao (lưỡi bằng kim loại dài 14cm, rộng 2,8cm, mũi nhọn; cán bằng gỗ dài 11cm) mang theo sẵn ra đe doạ ông T2. Thấy L đã có uống rượu, cầm dao đe doạ ông T2 nên ông Trần Văn Đ (sinh năm 1990, trú Thôn D, xã T, TP ., là hàng xóm của anh N và ông T2) dùng tay đánh vào mặt L, thì được bà Đặng Thị H (sinh năm 1972, là mẹ của anh N) và bà Trần Thị B (sinh năm 1984, là vợ ông T2) ôm, can ngăn. Ngay sau đó, L vùng ra khỏi tay bà B, dùng dao đâm trúng vào đùi trái của bà H và đâm trúng vào bụng ông Đ gây thương tích. Qua giám định, bà H bị tổn thương cơ thể 08% (tám phần trăm), ông Đ bị tổn thương cơ thể 37% (ba mươi bảy phần trăm). Ngày 25/01/2024, bà H đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự đối với L.
Mặc dù giữa bị cáo và bị hại không có quan hệ quen biết, không có mâu thuẫn với nhau, nhưng bị cáo L đã sử dụng dao nhọn là hung khí nguy hiểm để gây thương tích 37% cho bị hại, hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku truy tố bị cáo Nguyễn Tiến L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý
thực hiện, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng xâm phạm đến sức khỏe của người khác, xâm phạm trật tự trị an xã hội cần nghiêm trị. Để có mức án thỏa đáng, ngoài việc xem xét, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo trong vụ án để quyết định hình phạt cụ thể: Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú, tích cực bồi thường về dân sự cho bị hại, được bị hại bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bản thân bị hại cũng có một phần lỗi. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự; căn cứ vào nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần lên cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay, tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhằm trừng trị, giáo dục ý thức pháp luật, đồng thời cũng tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với xã hội, thành người tốt.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với con dao lưỡi bằng kim loại dài 14cm, rộng 2,8cm, có khắc chữ USA Design 2008, mũi nhọn cán bằng gỗ màu nâu dài 11cm là hung khí bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Tiến L đã tác động gia đình bồi thường chi phí cấp cứu, điều trị cho ông Trần Văn Đ với tổng số tiền 78.000.000 đồng; bồi thường chi phí cấp cứu, điều trị cho bà Đặng Thị H với số tiền 7.000.000 đồng. Ông Đ và bà H không có yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với thương tích ở tay của bà Trần Thị B do trúng vào dao của bị cáo Nguyễn Tiến L, qua điều tra xác định do L vùng vẫy để thoát ra khỏi tay bà B, nên lưỡi dao vô tình trúng vào tay bà B gây thương tích. Mặc khác, do chỉ thương tích nhẹ và bà B cũng không có yêu cầu, đề nghị gì Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý về vấn đề này là có căn cứ. Quá trình xảy ra giằng co, xô xát, bị cáo Nguyễn Tiến L bị anh Đặng Quốc T3 và bị hại Trần Văn Đ dùng tay đánh trúng vào mặt, nhưng L không bị thương tích gì và cũng không có yêu cầu gì, nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L 3 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 23/9/2023.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Xử: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại lưỡi dài 14cm, rộng 2,8cm, có khắc chữ USA Design 2008, mũi nhọn, cán bằng gỗ màu nâu dài 11cm (dao đã qua sử dụng)
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai).
- Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử buộc bị cáo Nguyễn Tiến L phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thắm |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Quách Đình Hoằng R’Cơm H'Myữ | Nguyễn Thị Hồng Thắm |
Bản án số 132/2024/HSST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 132/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến L phạm tội Cố ý gây thương tích
