Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 132/2024/DS-PT

Ngày: 16-5-2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng

đất; Yêu cầu tháo dỡ công trình

trên đất và yêu cầu hủy giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Nhựt

Các Thẩm phán: Bà Thái Thị Thanh Bình

Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Lê Hồng Thư – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường 04 – Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2023 về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 39/2022/DS-ST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐPT-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 332/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1969

    Địa chỉ: Ấp D, xã H (nay là khu phố P, thị trấn H), huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là: Luật sư Trương Thị H – thuộc Đoàn luật sư thành phố H.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M (Nguyễn Văn T), sinh năm 1959

    Địa chỉ: Ấp D, xã H (nay là khu phố P, thị trấn H), huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    Người đại diện hợp pháp của bị đơn là: Anh Hà Thanh H1, sinh năm 1990 (văn bản ủy quyền tại TA các cấp ngày 06/8/2018).

    Địa chỉ: Công ty L2, lầu 9, tòa nhà I, A H, phường F, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn là: Luật sư Lý Trung D - thuộc đoàn luật sư thành phố H.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Huỳnh Thị L, sinh năm 1962

      Người đại diện theo ủy quyền của bà L là: Anh Nguyễn Thế D1, sinh năm 1980 (văn bản ủy quyền tại TA các cấp ngày 28/01/2022).

      Địa chỉ: khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    2. Chị Nguyễn Thị Tuyết M1, sinh năm 1985
    3. Cháu Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 03/5/2018 (người đại diện theo pháp luật của cháu C là chị Nguyễn Thị Tuyết M1).

      Cùng địa chỉ: Ấp D, xã H (nay là khu phố P, thị trấn H), huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    4. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1944
    5. Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1969

      Cùng địa chỉ: Ấp D, xã H (nay là khu phố P, thị trấn H), huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    6. Trần Thị H2
    7. Anh Nguyễn Văn H3
    8. Chị Nguyễn Thị Ngọc L1

      Cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện N, Đồng Nai.

    (Ông S, LS H; anh H1, anh D1, LS D có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm,

* Nguyên đơn ông Trần Văn S trình bày:

Ngày 05/8/2003, ông S mua của ông Nguyễn Văn T diện tích đất 254m² (trong đó: thổ 188m², đất lâu năm 66m²) thuộc thửa 333 tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp D, xã H, huyện N với giá 70.000.000 đồng. Đồng thời bà Trần Thị H2 bán cùng thửa đất nêu trên cho ông S 48m² (diện tích đất lâu năm và căn nhà tạm), vị trí đất nằm sát nhà ông Năm T1 cùng thửa 333 tờ bản đồ 10 xã H. Khi mua bán hai bên có lập giấy tay, có giao đất và cắm mốc ranh giới bằng trụ bê tông. Đến ngày 18/9/2006, ông S và ông T đến Ủy ban nhân dân xã H để lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 04/12/2006, ông S được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG666557 diện tích 302m² thửa 2001 tờ bản đồ 10 xã H. Sau khi được cấp sổ, ông để đất trống nhưng có cắm trụ xi măng, rào kẽm gai quanh ranh đất để phân ranh với đất liền kề và đóng thuế đầy đủ. Ngoài diện tích đất nêu trên thì ông không nhận chuyển nhượng từ ông T (M) diện tích đất nào khác.

Ngày 21/4/2014, diện tích đất trên bị thu hồi 22,2m² để làm đường, đến năm 2018 bị thu hồi diện tích đất 133.8m² theo dự án xây hệ thống cấp nước N, ông S đã nhận tiền đền bù (đã cập nhật biến động trang 4 trên giấy chứng nhận QSD đất) và không có ai tranh chấp gì.

Đến năm 2017, ông S phát hiện ông Nguyễn Văn T (Nguyễn Văn M) lấn chiếm xây dựng 01 phần nhà ở và làm hàng rào trên phần đất nên khoảng tháng 10/2017 ông yêu cầu Công an xã H mời ông T (M) lên làm việc. Tại biên bản làm việc ngày 27/10/2017, ông T (M) đã thừa nhận việc ông T (M) có bán cho ông diện tích đất 302m² thửa 333 tờ bản đồ số 10 xã H nên công an xã H xác định đây là vụ án dân sự, đề nghị ông làm đơn tranh chấp gửi đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Ông S gửi đơn tranh chấp đến Ủy ban nhân dân xã H, sau khi hòa giải không thành thì ông tiếp tục khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

1

2

Tại Tòa án, khi ông T không hợp tác làm việc, ông S đã làm đơn yêu cầu chuyển hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, tại buổi làm việc ở Công an huyện, ông T (M) cũng thừa nhận việc mua bán trên là có thật.

Theo kết quả đo đạc thể hiện phần đất của ông tại thửa 144 tờ bản đồ 37 (bản đồ mới) chỉ còn 114.3m², trong đó có 25m² sát thửa 146 của ông Đ và 89,3m² hiện ông T (M) đang lấn chiếm nên ngày 12/4/2022, ông S rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất 86,7m², chỉ yêu cầu ông Nguyễn Văn T (Nguyễn Văn M) tháo dỡ công trình và trả lại diện tích đất 89,3m² thửa 2001 tờ bản đồ 10 (tương ứng thửa 144 tờ bản đồ 37) tọa lạc tại ấp D (nay là khu phố P), thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Tại phiên tòa ông S giữ nguyên việc rút 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với ông T (M), đồng thời buộc ông T (M) tháo dỡ hàng rào và công trình trả lại cho ông S diện tích đất 89,3m² thuộc 01 phần thửa 2001 tờ bản đồ 10 (tương ứng thửa 144 tờ bản đồ 37 thị trấn H).

Đối với 5m² chỉ ranh lấn qua thửa 146 của ông Đ thì nay ông không tranh chấp; ông cũng không tranh chấp phần đất 54,4m² tại thửa 145 của ông T (M), không tranh chấp gì với bà H2, anh H3, chị L1.

Phần đất mà ông nhận chuyển nhượng của ông T (M) vào năm 2006 là tài sản riêng của ông, không phải tài sản chung vợ chồng. Ông và vợ (Nguyễn Thị H4) mới đăng ký kết hôn vào ngày 11/4/2007, ngay thời điểm mua đất thì chưa đăng ký kết hôn. Ông đã cung cấp bản sao giấy chứng nhận kết hôn số 53/2007, quyển số 01 ngày 11/4/2007 cho Tòa án (nay vợ chồng cũng đã ly hôn và thỏa thuận chia tài sản chung xong vào ngày 05/3/2019).

Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông, ông không đồng ý.

Ông S đồng ý với kết quả đo đạc, kết quả thẩm định giá tại chứng thư số 15/TĐG-CT ngày 28/01/2021.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn M (Nguyễn Văn T) có người đại diện hợp pháp là anh Hà Thanh H1 trình bày:

Ông Nguyễn Văn M có bí danh là Nguyễn Văn T.

Anh H1 xác định từ trước đến nay ông Nguyễn Văn M không chuyển nhượng phần đất nào cho ông S nên đối với yêu cầu khởi kiện của ông S, anh đại diện bị đơn không đồng ý. Việc ông S khai ông M xây dựng nhà ở và rào đất lấn chiếm của ông S là không đúng.

Ông M không bán đất cho ông S, người bán đất cho ông S là bà H2, ông M chỉ đứng ra ký để hợp thức hóa việc bà H2 bán đất cho ông S.

Ông Nguyễn Văn M (T) và bà Huỳnh Thị L sống chung khoảng năm 1984. Ngày 08/01/1997 ông M (T) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.217m² thửa đất 333 tờ bản đồ 10 xã H nên diện tích đất trên là tài sản chung của vợ chồng ông M. Vợ chồng ông M (Tốt) sống liên tục, ổn định trên thửa đất này từ khoảng năm 1984 cho đến nay.

Ông Nguyễn Văn M giữ nguyên yêu cầu phản tố về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 666557 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Trần Văn S ngày 04/12/2006 (thửa 2001 tờ bản đồ 10 xã H), đồng thời yêu cầu hủy

3

hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/9/2006 giữa ông Nguyễn Văn T với ông Trần Văn S.

Anh H1 không yêu cầu đo đạc lại phần đất tranh chấp, thống nhất với kết quả thẩm định giá tại chứng thư thẩm định giá số 15/TĐG-CT ngày 28/01/2021.

* Tại biên bản ghi lời khai ngày 27/10/2017 của Công an xã H (bút lục 31) và biên bản ghi lời khai ngày 17/12/2018 của Công an huyện N (bút lục 157-158) ông Nguyễn Văn M trình bày:

Năm 2006 ông có chuyển nhượng 01 phần diện tích đất 302m² thửa 333 tờ bản đồ 10 thuộc ấp D, xã H cho ông S (01 mặt giáp với đất ông Năm T1, 01 mặt giáp đất của ông, 01 mặt giáp đất ông Đ, trên phần đất giáp với đất ông Đ có 01 con đường đất từ trước giải phóng, tuy nhiên diện tích con đường này nằm trong sổ do ông đứng tên và đã bán cho ông S). Hiện tại theo quy hoạch làm đường 25B và hành lang đường 25B thì toàn bộ đất của ông S nằm trong quy hoạch và đã được Nhà nước đền bù, ông không biết ông S đã nhận tiền đền bù chưa. Ông không rào phần đất nào của ông S... (BL31).

Từ trước đến nay ông không bán đất cho ông Trần Văn S, lý do có sự điều chỉnh của Ủy ban nhân dân huyện N ngày 25/12/2006 từ sổ đất do ông đứng tên (với tên Nguyễn Văn T) cho ông S diện tích 302m² từ thửa đất 333 tờ bản đồ 10, ấp D, xã H là do ông S mua đất của bà Trần Thị H2 (dì ruột của ông) và diện tích đất ông S mua của bà H2 lại nằm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông đứng tên nên ông có làm thủ tục cho ông S sang tên chuyển quyền vào năm 2006...

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị L có người đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Thế D1 trình bày:

L là vợ của ông Nguyễn Văn M, ông bà kết hôn từ năm 1984 và chung sống với nhau tại ấp D, xã H ổn định, liên tục từ đó cho đến nay.

Từ trước đến nay ông T (M) chưa lần nào thỏa thuận chuyển nhượng đất cho ông Trần Văn S nên bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn S.

Việc ông M yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông S (thửa 2001 tờ bản đồ 10 xã H), bà L đồng ý.

L đã khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/9/2006 giữa ông T với ông S, yêu cầu khởi kiện đã được Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch thụ lý.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Tuyết M1 đồng thời là người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Ngọc Minh C trình bày:

Chị là con ruột của ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị L. Từ khi sinh ra và lớn lên chị ở chung với cha mẹ là ông M, bà L tại ấp D, xã H, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Quá trình sinh sống trên mảnh đất trên, chị không biết và cũng không nghe cha chị nhắc đến hay chuyển nhượng đất cho ông Trần Văn S, do vậy chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông S.

Chị không tranh chấp gì với ông M, bà L. Do đang nuôi con nhỏ nên chị xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, chị cam đoan không thắc mắc hay khiếu nại gì về sau.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

4

Đất của ông là thửa 146 tờ bản đồ 37 xã H (đất này ông mua lại từ ông Nguyễn Văn M vào năm 2003, có lập giấy tay, đã sang tên cho ông vào năm 2003). Khi mua thì ông và ông M (Tốt), bà L (vợ ông M) có thỏa thuận con đường đi vào thửa đất 2m (hai mét) từ lộ 25B được sử dụng chung không mua bán sang nhượng hoặc sử dụng dưới mọi hình thức khác, sau này khi nhà nước quy hoạch mở rộng đường 25B thì diện tích đất của ông giáp đường 25B (nay là con đường đi hiện hữu để vào nhà).

Thửa đất số 146 ông đã làm thủ tục tặng cho con gái ông (Nguyễn Thị Kim P), hiện nay chị P đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông không tranh chấp gì với ông S, ông M trong vụ án này, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do không tranh chấp nên ông xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim P trình bày tại bản khai ngày 28/3/2022:

Bà là con ruột của ông Nguyễn Văn Đ. Nguồn gốc đất tại thửa 146 tờ bản đồ 37 thị trấn H là của ông Đ cho bà, bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay ông Đ là người ở trên đất. Qua đo đạc, ông S chỉ ranh có lấn vào đất của bà 5m² nhưng ông S không tranh chấp nên bà không có ý kiến gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bà không tranh chấp nên xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Đối với bà Trần Thị H2, anh Nguyễn Văn H3, chị Nguyễn Thị Ngọc L1, Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn, bị đơn cung cấp địa chỉ nhưng ông S, ông M đều không cung cấp được. Mặt khác qua xác minh tại Công an xã P và trưởng ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì những người này không có đăng ký thường trú và không sinh sống ở địa phương. Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà H2, anh H3, chị L1 tại địa chỉ ghi trong hợp đồng chuyển nhượng ngày 5/8/2003 mà nguyên đơn cung cấp theo quy định.

Tại bản án số Dân sự sơ thẩm số 39/2022/DS-ST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, đã Quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39, các điều 68, 85, 147, 157,165, 217, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 49, 106 Luật đất đai năm 2003; Điều 166 Luật đất đai năm 2013; Điều 697 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn S đối với ông Nguyễn Văn M (Nguyễn Văn T) về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 86,7m² thuộc một phần thửa 2001 tờ bản đồ 10 (thửa mới 144 tờ bản đồ 37) thị trấn H.
  2. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn S đối với bị đơn ông Nguyễn Văn M (Nguyễn Văn T) về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”.

    Xử: Buộc ông Nguyễn Văn M tự tháo dỡ hàng rào (trụ cột gỗ, khung xương gỗ ốp tôn cao trung bình 2,5m + rào lưới B40 mặt trong cao 1,4m; cửa khung sắt

5

bọc tôn), mái che (có cấu trúc trụ cột thép tròn + trụ cột gỗ gắn máng xối; bán kèo thép, xà gồ thép, mái tôn; nền xi măng + nền gạch ceramic), nhà tạm (trụ cột gỗ, xà gồ gỗ + xà gồ thép, mái tôn; khung xương gỗ, vách ốp tôn + rào lưới B40 một phần; cửa gỗ + cửa khung sắt bọc tôn; nền gạch ceramic) để trả lại cho ông Trần Văn S diện tích đất 89,3m² thuộc 01 phần thửa 2001 tờ bản đồ 10 (tương ứng thửa mới 144 tờ bản đồ 37) thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Tứ cận đất: Đông giáp phần còn lại của thửa 144 và thửa 146; Tây giáp thửa 119; Nam giáp thửa 145 (đất ông Nguyễn Văn M); Bắc giáp đường T (theo trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 831/2022 ngày 22/02/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ chi nhánh N) được giới hạn bởi các mốc 1,2,13,5,6,11,12,1.

  1. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn M về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 666557 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Trần Văn S ngày 04/12/2006 (thửa 2001 tờ bản đồ 10 xã H).
  2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn M (Nguyễn Văn T) phải chịu 50.899.635 đồng (trả lại cho ông Trần Văn S số tiền này).
  3. Về án phí: Trả lại cho ông Trần Văn S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.000.000 đồng theo biên lai thu số 007884 ngày 31/1/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

    Ông Nguyễn Văn M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

    Trả lại cho ông Nguyễn Văn M số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000702 ngày 17/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

Ngoài ra án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 19/9/2022, ông Nguyễn Văn M nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm; ngày 20/9/2022 bà Huỳnh Thị L nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm số 39/2022/DS-ST ngày 14/9/2022 của TAND huyện Nhơn Trạch; Đề nghị cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông S và ông T (ông M) ngày 18/9/2006 vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật.

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn (Luật sư Lý Trung D):

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/9/2006 có những sai lầm nghiêm trọng như sau: Hợp đồng không xác định vị trí đất, ranh giới đất, tứ cận mà vẫn được UBND xã H chứng thực; Hợp đồng này bà Huỳnh Thị L là vợ ông T không biết việc chuyển nhượng cũng như không ký trong hợp đồng chuyển nhượng. Có dấu hiệu trong việc ông T bị ép buộc ký vì theo lời khai của ông S do ông T không đồng ý ký hợp đồng nên ông S đã đề nghị công an xã mời ông T lên làm việc. Ông T không ký vào đơn tách thửa. Ông S không được giao đất và không sử dụng đất nên không chứng minh được các cột mốc như ông S trình bày, không chỉ ra được ranh đất khi thẩm định tại chỗ. Từ những căn cứ đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị L.

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn (Luật sư Trương Thị H):

Hợp đồng chuyển nhượng giữa các bên không ghi rõ diện tích tứ cận nhưng không có quy định nào phải ghi rõ nội dung trên, Hợp đồng đã

6

được UBND xã H công chứng chứng thực đúng quy định. Giấy chứng nhận chỉ cấp cho ông T. Bà L cho sống với ông T từ năm 1984 và sống liên tục cạnh đất tranh chấp; khi Nhà nước kiểm đếm đền bù cho ông S mà bà L nói không biết là không có cơ sở. Ông S là người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được nhận đền bù theo đúng quy định của cơ quan có thẩm quyền nên việc bị đợn xác định ông S không nhận đất không sử dụng đất là không đúng. Bị đơn cho rằng bị ép buộc khi ký hợp đồng là suy diễn, thực tế kết quả giám định chữ ký là của ông T. Từ các căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Quan điểm của Viện Kiểm Sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử và tại phiên tòa. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử có vi phạm quy định tại Điều 286 BLTTDS (thụ lý ngày 10/01/2023, đến ngày 30/11/2023 mới ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử là quá hạn 06 tháng).

Các đương sự tham gia phiên tòa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Đơn kháng cáo của bị đơn được làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, kháng cáo hợp pháp nên được xem xét theo thủ tục chung.

Quan điểm đối với nội dung kháng cáo: Đề nghị áp dụng khoản 1, điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M (Tốt) và bà Huỳnh Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 39/2022/DS-ST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Ngày 19/9/2022, ông Nguyễn Văn M nộp đơn kháng cáo; ngày 20/9/2022 bà Huỳnh Thị L nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm số 39/2022/DS-ST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự thì kháng cáo trong hạn luật định, ông M và bà L có đơn xin miễn án phí thuộc diện người cao tuổi. Vì vậy, kháng cáo hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự cấp sơ thẩm xác định là đúng và đầy đủ.
  3. Về nội dung kháng cáo: Bị đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm với lý do Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm pháp luật nghiêm trọng do các bên không xác định ranh giới, vị trí đất, bà Huỳnh Thị L không ký và không biết việc chuyển nhượng, ông T bị ép buộc ký hợp đồng chuyển nhượng và ông T không ký vào đơn tách thửa. Thực tế ông S không được giao đất nên không sử dụng đất do đó khi xem xét thẩm định tại chỗ ông S không chỉ ra được đất ranh đất.

    Xét thấy, ngày 18/9/2006, ông Nguyễn Văn T (ông Nguyễn Văn M) ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn S diện tích đất 302m² (trong đó 118m² đất thổ và 114m² đất trồng cây lâu năm), thửa 333, tở bản đồ số 10, xã H đã được UBND xã H xác nhận. Đến ngày 04/12/2006, ông Trần Văn S được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 666557

7

với diện tích 302m² (có 188m² đất ở + cây hàng năm) thửa 2001, tờ bản đồ 10 xã H (thửa 2001 tách ra từ thửa 333). Tại biên bản làm việc ngày 27/10/2017, tại Công an xã H, ông T thừa nhận có bán đất cho ông S. Tại kết luận giám định số 4786/C09B ngày 31/10/2019 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận chữ ký trên hợp đồng chuyển nhượng, tờ khai lệ phí trước bạ, tờ khai thuế chuyển quyền với chữ ký dùng làm mẫu so sánh đứng tên Nguyễn Văn T là do cùng một người ký ra.

Năm 2011, ông S bị thu hồi 22,2m² cắt thửa 2001, tờ bản đồ 10 để thực hiện dự án mở rộng một bên đường 25B theo quyết định số 3821/QĐ-UBND ngày 04/10/2010 của UBND huyện N, diện tích còn lại trên trang 3 giấy CNQSDĐ là 279,8m².

Năm 2018, ông S bị thu hồi thêm 103,8m² cắt thửa 2001, tờ bản đồ 10 để thực hiện dự án xây dựng hệ thống cấp nước theo quyết định số 1699/QĐ-UBND ngày 08/4/2011 và Quyết định số 3688/QĐ-UBND ngày 04/11/2013 của UBND huyện N, diện tích còn lại trên trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 176m² đất thổ cư.

Các khoản tiền bồi thường do thu hồi đất ông S đã nhận và đã giao đất cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện dự án.

Do đó, kháng cáo của bị đơn cho rằng ông T bị ép buộc khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ông S không được giao đất và không sử dụng đất là không có cơ sở. Việc bị đơn cho rằng bà Huỳnh Thị L là vợ ông T không biết việc các bên chuyển nhượng đất cũng không có cơ sở chấp nhận bởi lẽ từ khi ký hợp đồng chuyển nhượng đến khi ông S nhận tiền bồi thường, ông T cùng vợ là bà L không có tranh chấp gì trong khi nhà ông T ở sát ranh thửa đất của ông S. Từ đó thể hiện bà L biết việc chuyển nhượng đất cho ông S nhưng không có ý kiến phản đối nên xem như đồng ý với việc ông T chồng bà chuyển nhượng đất cho ông S. Việc chuyển nhượng đã hoàn thành, ông S đã đăng ký, được chỉnh lý biến động sang tên và đứng tên trên giấy CNQSDĐ vào ngày 04/12/2006 nên ông S là chủ sử dụng hợp pháp đối với diện tích 302m², thửa 333, tờ bản đồ 10.

Căn cứ kết quả đo vẽ tại Trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 831/2022 ngày 22/02/2023 của VPĐKĐĐ tỉnh Đ - chi nhánh N thể hiện diện tích đất tranh chấp 89,3m² thuộc thửa mới số 144, tờ bản đồ 37 (cũ là thửa 2001, tờ bản đồ 10) được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S vào ngày 04/12/2006, hiện chưa cấp đổi theo bản đồ địa chính mới. Trên diện tích đất tranh chấp có công trình hàng rào, mái che, nhà tạm do ông T xây dựng, do ông T đã lấn chiếm sử dụng trái phép diện tích 89,3m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông S, nên cấp sơ thẩm buộc ông T tháo dỡ công trình xây dựng và trả lại diện tích đất lấn chiếm 89,3m² là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên cho thấy Bản án sơ thẩm xét xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, lý do kháng cáo của bị đơn đưa ra không có cơ sở nên không chấp nhận.

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

8

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn; Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Ông M, bà L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị L.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 39/2022/DS-ST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39, các điều 68, 85, 147, 157,165, 217, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 49, 106 Luật đất đai năm 2003; Điều 166 Luật đất đai năm 2013; Điều 697 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn S đối với ông Nguyễn Văn M (Nguyễn Văn T) về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 86,7m² thuộc một phần thửa 2001 tờ bản đồ 10 (thửa mới 144 tờ bản đồ 37) thị trấn H.
  2. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn S đối với bị đơn ông Nguyễn Văn M (Nguyễn Văn T) về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”.

    Xử: Buộc ông Nguyễn Văn M tự tháo dỡ hàng rào (trụ cột gỗ, khung xương gỗ ốp tôn cao trung bình 2,5m + rào lưới B40 mặt trong cao 1,4m; cửa khung sắt bọc tôn), mái che (có cấu trúc trụ cột thép tròn + trụ cột gỗ gắn máng xối; bán kèo thép, xà gồ thép, mái tôn; nền xi măng + nền gạch ceramic), nhà tạm (trụ cột gỗ, xà gồ gỗ + xà gồ thép, mái tôn; khung xương gỗ, vách ốp tôn + rào lưới B40 một phần; cửa gỗ + cửa khung sắt bọc tôn; nền gạch ceramic) để trả lại cho ông Trần Văn S diện tích đất 89,3m² thuộc 01 phần thửa 2001 tờ bản đồ 10 (tương ứng thửa mới 144 tờ bản đồ 37) thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    Tứ cận đất: Đông giáp phần còn lại của thửa 144 và thửa 146; Tây giáp thửa 119; Nam giáp thửa 145 (đất ông Nguyễn Văn M); Bắc giáp đường T (theo trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 831/2022 ngày 22/02/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ chi nhánh N) được giới hạn bởi các mốc 1,2,13,5,6,11,12,1.

  3. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn M về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 666557 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Trần Văn S ngày 04/12/2006 (thửa 2001 tờ bản đồ 10 xã H).
  4. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn M (Nguyễn Văn T) phải chịu 50.899.635 đồng (trả lại cho ông Trần Văn S số tiền này).

9

  1. Về án phí: Trả lại cho ông Trần Văn S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.000.000 đồng theo biên lai thu số 007884 ngày 31/1/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

    Ông Nguyễn Văn M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

    Trả lại cho ông Nguyễn Văn M số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000702 ngày 17/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

    Ông M, bà L được miễn án phí Dân sự phúc thẩm.

  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND T.Đồng Nai;
  • - Cục THADS T.Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS H.Nhơn Trạch;
  • - TAND H.Nhơn Trạch;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Minh Nhựt

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/DS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 132/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu tháo dỡ công trình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger