Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY NAM

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 132/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-8-2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hiền.

2. Ông Nguyễn Văn Hết.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 240/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 344/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 393/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Đ, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Ấp BS, xã NĐ, huyện M, tỉnh Bến Tre (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn V, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Ấp LT, xã CS, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Đ trình bày:

Chị và anh Nguyễn Tấn V tự quen biết, qua thời gian tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương vào năm 2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã CS, huyện M, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 25/5/2018. Sau khi thành hôn, chị về sống cùng với gia đình anh V tại ấp LT, xã CS. Anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 9/2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về cuộc sống, tính tình không hợp nên anh chị thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể tiếp tục chung sống nên chị và anh V sống ly thân từ tháng 9/2023 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, gia đình hai bên cũng tạo điều kiện, động viên hòa giải nhằm giúp anh chị hàn gắn đoàn tụ nhưng không thành. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị xin ly hôn với anh V.

Về con chung: Chị và anh V có một con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày: 21/9/2018, hiện tại con đang sống cùng với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh V không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Tấn V vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa, anh V cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của anh về những nội dung có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
  • + Thẩm phán thụ lý và giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • + Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đ, cụ thể:
  • + Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ được ly hôn với anh V.
  • + Về con chung: Sau khi ly hôn, chị Đ được quyền nuôi con chung là Nguyễn Thị Kim C.
  • + Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Chị Đ không yêu cầu anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nên ghi nhận.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ trình bày không có tài sản chung, không có nợ chung nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Chị Phạm Thị Đ có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre giải quyết ly hôn giữa chị với anh Nguyễn Tấn V có nơi cư trú tại ấp LT, xã CS, huyện M, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn chị Phạm Thị Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Tấn V đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên là phụ hợp theo quy định tại các điều 207, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Đ và anh Nguyễn Tấn V tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã CS, huyện M, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 25/5/2018 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh V được xem là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, chị Đ cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh V không hạnh phúc do anh chị có sự khác biệt về quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi nhau và mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng trầm trọng. Do không thể tiếp tục sống cùng nhau nên chị và anh V sống ly thân từ tháng 9/2023 cho đến nay, không ai quan tâm gì đến ai, anh chị không thể hàn gắn đoàn tụ được. Quá trình Tòa án giải quyết, anh V không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về hôn nhân giữa anh và chị Đ, cũng như anh V không có mặt tại Tòa án để tham gia hòa giải nhằm mục đích hàn gắn đoàn tụ. Từ đó, cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh V đã đến mức trầm trọng, không thể đoàn tụ để tiếp tục cuộc sống chung của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đ.

[2.2] Về con chung: Chị Đ và anh V có một con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày: 21/9/2018. Chị Đ yêu cầu được nuôi dưỡng con sau khi ly hôn.

Xét thấy, hiện cháu C chưa đủ 07 tuổi và sống với chị Đ từ đầu tháng 02/2024 cho đến nay; bên cạnh đó, chị Đ cũng đảm bảo về điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Anh V vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến của anh về việc nuôi con. Do đó, để đảm bảo cuộc sống không bị thay đổi và sự phát triển bình thường của con cả về thể chất lẫn tinh thần nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đ, giao con chung là Nguyễn Thị Kim C cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Chị Đ không yêu cầu anh V cấp dưỡng cho con nên ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ trình bày chị và anh V không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh V vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để thể hiện ý kiến của anh về việc yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là phù hợp với các nhận định nêu trên nên được chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Đ là người khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Đ, cụ thể:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Tấn V.
  2. Về con chung: Chị Phạm Thị Đ và anh Nguyễn Tấn V có một con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày: 21/9/2018.

Sau khi ly hôn, chị Phạm Thị Đ được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Thị Kim C.

Ghi nhận chị Phạm Thị Đ không yêu cầu anh Nguyễn Tấn V cấp dưỡng cho con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nuôi con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung, chị Phạm Thị Đ, anh Nguyễn Tấn V hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, chị Phạm Thị Đ, anh Nguyễn Tấn V có thể thỏa thuận việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, phương thức cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

  1. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Đ và anh Nguyễn Tấn V không có tài sản chung nên không xem xét.
  2. Về nợ chung: Chị Phạm Thị Đ và anh Nguyễn Tấn V không có nợ chung nên không xem xét.
  3. Về án phí: Chị Phạm Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Đ đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005492 ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bến Tre. Chị Phạm Thị Đ đã nộp đủ án phí.
  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - UBND xã CS;
  • - VKSND huyện M;
  • - Chi cục THADS huyện M;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Hồng Dân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 132/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Đ xin ly hôn với anh V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger