TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 132/2024/HS - ST
Ngày 10 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Thành Danh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Sơn.
- Bà Võ Thị Thanh Thu.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn T - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Quốc Đ; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 28/4/1999; tại: Bình Dương; giới tính: nam; địa chỉ thường trú: 7 P, Phường C, quận G, TP .; Chổ ở: như trên; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quốc K và bà Bùi Thị Tuyết M; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 09/10/2023 cho đến nay; bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
Bị hại: Bà Phạm Thúy K1, sinh năm 1978 (có mặt)
Địa chỉ: A Ấp E, xã X, huyện H, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Quốc Đ là lái xe G (taxi công nghệ), do không có điều kiện mua xe ô tô để chạy nên thông qua mạng xã hội Facebook, Đ biết chị Phạm Thúy K1 có kinh doanh cho thuê xe ô tô tự lái. Khoảng đầu tháng 02/2022, Đ sử dụng số điện thoại 0779.771.xxx gọi vào số điện thoại 0336.184.xxx được chị K1 đăng tải kèm theo thông tin cho thuê xe của chị K1 trên mạng xã hội Facebook. Sau đó, cả 02 kết bạn Zalo với nhau để trao đổi việc thuê xe, đồng thời chị K1 hẹn ngày và cho Đ địa chỉ cụ thể để đến xem xe.
Ngày 15/4/2022, Đ đến nhà chị K1 tại địa chỉ A ấp E, xã X, huyện H thuê xe ô tô 07 chỗ hiệu M1 biển số 51H-589.42. Chị K1 và Đ lập hợp đồng thuê xe, giá thuê xe là 12.000.000 đồng/tháng, thời hạn thuê là 01 năm kể từ ngày 15/4/2022, thanh toán thông qua hình thức chuyển khoản vào ngày 15 và 30 tây hằng tháng, đồng thời hằng tháng Đ phải đem xe đến cho chị K1 kiểm tra, bảo dưỡng 01 ngày trong tháng. Đ đặt cọc cho chị K1 số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng xong Đ sử dụng tài khoản số [...] do Đ mở tại Ngân hàng TMCP Q (M2) chuyển số tiền 4.000.000 đồng vào tài khoản số 4586447 của chị K1 mở tại Ngân hàng TMCP Á (A) trong ngày 15/4/2022, chị K1 giao xe ô tô này cùng bản sao giấy đăng ký xe, giấy bảo hiểm và giấy đăng kiểm là bản chính cho Đ. Đến ngày 27/4/2022, Đ tiếp tục chuyển cho chị K1 số tiền 8.000.000 đồng.
Ngày 09/5/2022, Đ chuyển khoản cho chị K1 số tiền 1.800.000 đồng và nợ số tiền thuê xe còn lại. Sau đó, Đ nảy sinh ý thức chiếm đoạt xe của chị K1 nên sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Đạt L” đăng tải thông tin có nội dung: “Cần tiền cầm cố xe ô tô Mitsubishi Xpander chính chủ giá thấp” thì có 01 tài khoản nhắn tin cho Đ trao đổi. Lúc này, Đ gọi điện thoại vào tài khoản này thì biết đây là tài khoản của 01 người thanh niên (sau khi gặp ký giấy cầm xe thì Đ biết người này tên là Trần Hữu B). Qua trao đổi thì B hẹn Đ tại 01 quán cà phê ở Quận T (nay là Tp ., Đ không nhớ tên quán và địa chỉ) để thỏa thuận cầm xe.
Ngày 12/5/2022, Đ tự viết 01 giấy mua bán xe ô tô nội dung thể hiện ngày 29/02/2022 chị K1 bán xe này cho Đ với giá 145.000.000 đồng rồi Đ tự ký tên, điểm chỉ vào cả bên bán và bên mua. Tại quán cà phê, sau khi xem xe và giấy tờ liên quan, B đồng ý cầm xe này với số tiền 35.000.000 đồng.
Sau đó, B đưa cho Đ 01 cuốn sổ và yêu cầu Đ tự viết giấy cầm xe thể hiện nội dung ngày 12/5/2022, Đ cầm xe ô tô hiệu Mitsubishi Xpander biển số 51H-589.42 cho Trần Hữu B (Sinh năm: 1999; Nơi thường trú: Khu A, Thị trấn T huyện T, tỉnh Phú Thọ; CMND số [...] cấp ngày 26/12/2018 tại Công an tỉnh P) với giá 35.000.000 đồng, cam kết xe này là của Đ, cả 02 bên cùng ký tên xác nhận. Bằng sử dụng tài khoản số 19036402709011 tên “TRAN HUU BANG” mở tại Ngân hàng TMCP K2 (T1) chuyển số tiền 35.000.000 đồng vào tài khoản của Đ rồi Đ giao tất cả giấy tờ liên quan xe này cho B giữ. Riêng giấy mua bán xe viết tay mà Đ tự làm giả thì Đ chỉ cho B chụp lại còn bản chính thì Đ đã vứt bỏ trên đường đi về nhà (do thời gian đã lâu nên Đ không nhớ rõ nơi vứt). Sau khi nhận số tiền trên, Đ chuyển số tiền 6.000.000 đồng vào tài khoản của chị K1 vào ngày 16/5/2022 trả tiền thuê xe, riêng số tiền còn lại thì Đ sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân.
Sau khi sử dụng hết số tiền trên, Đ tiếp tục gọi điện thoại cho B yêu cầu B nhận cầm cố thêm tiền đối với xe ô tô trên thì B đồng ý. Sau đó, B đã chuyển khoản và đưa trực tiếp cho Đ nhiều lần với tổng số tiền nhận cầm cố là 75.000.000 đồng. Bằng đưa 01 cuốn sổ cho Đ và yêu cầu Đ viết giấy nhận cọc thể hiện tổng số tiền Đ đã nhận là 75.000.000 đồng vào ngày 01/6/2022. Sau khi nhận số tiền này, Đ đã chuyển tiếp cho chị K1 tiền thuê xe tháng 6/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng, cụ thể là ngày 01/6/2022 và ngày 21/6/2022, mỗi lần chuyển 6.000.000 đồng nhằm để chị K1 không nghi ngờ việc Đ đã cầm cố xe này.
Đến tháng 7/2022, chị K1 gọi cho Đ yêu cầu thanh toán tiền thuê xe thì Đ lấy nhiều lý do để trì hoãn. Do chị K1 liên tục gọi hỏi nên Đ chủ động gọi và hẹn gặp chồng chị K1 là anh Nguyễn Văn B1 (Sinh năm: 1980) nói chuyện. Khi gặp anh B1, Đ không nói cho anh B1 biết việc xe này đã bị cầm cố mà nói dối là nhà Đ có đám tang ở Hà Nội, đã lấy xe này đi Hà Nội, 01 tuần sau Đ sẽ ra Hà Nội lấy xe về trả lại cho chị K1. Sau đó, chị K1 tiếp tục gọi hỏi Đ nhưng Đ vẫn không nói đã cầm cố xe này cho chị K1 biết mà nói dối xe này vẫn do Đ đang quản lý còn tiền thuê xe hằng tháng thì Đ sẽ trả dồn vào tháng kế tiếp.
Do không có khả năng thanh toán tiền thuê xe cho chị K1 cũng như tiền để chuộc lại xe từ Bằng và sợ chị K1 trình báo Cơ quan Công an nên Đ đã tháo vứt bỏ sim số 0779771520 trên đường N (không nhớ nơi đã vứt) và chuyển chỗ ở từ Phường C qua Phường E, Quận G sinh sống nhằm trốn không để chị K1 tìm được. Ngày 02/11/2022, chị K1 đến Công an huyện H tố cáo hành vi của Đ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 195/KL – HĐĐGTS ngày 07/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, TP . Hồ Chí Minh xác định xe ô tô hiệu Mitsubishi Xpander biển số 51H-589.42 trị giá 460.000.000đ.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H Lê Quốc Đ khai nhận như nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) chiếc ĐTDĐ hiệu S Galaxy S10 IMEI: 054604100532655.
- 01 đĩa DVD lưu giữ hình ảnh liên quan vụ án.
Về dân sự: Bị hại K1 yêu cầu Đ bồi thường 460.000.000 đồng.
Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra Quyết định truy tìm người đối với Trần Hữu B, Quyết định truy tìm vật đối với xe ô tô hiệu Mitsubishi Xpander biển số 51H-589.42 trên các phương tiện thông tin đại chúng hỗ trợ đăng tải thông tin truy tìm Bằng và xe này nhưng đến nay vẫn chưa tìm và làm việc được với B cũng như chưa tìm được xe này.
Tại bản cáo trạng số 101/CT-VKSH.HM ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Quốc Đ về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 175 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Lê Quốc Đ từ 06 năm đến 07 năm tù. Xử lý vật chứng theo quy định.
Về dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo Lê Quốc Đ bồi thường cho chị Phạm Thúy K1 số tiền 460.000.000 đồng.
- Bị hại Phạm Thúy K1 có yêu cầu bị cáo bồi thường 460.000.000 đồng.
- Bị cáo Lê Quốc Đ khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu và không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại..
Lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Quốc Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, với bản kết luận điều tra của Công an huyện H, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Ngày 15/4/2022 tại nhà số A ấp E, xã X, huyện H, TP . Hồ Chí Minh, bị cáo Lê Quốc Đ thuê xe ô tô hiệu Mitsubishi Xpander biển số 51H-589.42 của chị Phạm Thúy K1 trị giá 460.000.000, sau đó nảy sinh ý định chiếm đoạt nên ngày 12/5/2022, Đ đã làm giả giấy tay mua bán xe ô tô trên, cầm cố chiếc xe cho Trần Hữu B với số tiền tổng cộng 75.000.000 đồng rồi bỏ trốn. Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Đối với đối với Trần Hữu B, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra Quyết định truy tìm người trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay vẫn chưa tìm và làm việc được với B.
[3] Xét ý kiến của đại diện viện kiểm sát và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về hình phạt: Khi lượng hình cần xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng;
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét áp dụng các quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại Phạm Thúy K1, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 460.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại. Việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và người bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. Như vậy bị cáo Lê Quốc Đ có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Phạm Thúy K1, số tiền 460.000.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) chiếc ĐTDĐ hiệu S Galaxy S10 IMEI: 054604100532655 bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 đĩa DVD lưu giữ hình ảnh liên quan vụ án lưu hồ sơ vụ án.
- 01 xe ô tô hiệu Mitsubishi Xpander biển số 51H-589.42, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra Quyết định truy tìm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay vẫn chưa tìm được xe này. Đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm và sẽ xử lý sau khi khi tìm được xe.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo Lê Quốc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự;
Áp dụng Điều 590 Bộ luật dân sự;
Áp dụng Điều 106; Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Xử phạt bị cáo Lê Quốc Đ 06 (sáu) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2023.
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Lê Quốc Đ phải bồi thường cho người bị hại Phạm Thúy K1, số tiền 460.000.000 (bốn trăm sáu mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người bị thi hành ánh còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Xử lý vật chứng:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc ĐTDĐ hiệu S Galaxy S10 IMEI: 054604100532655 (Tang vật tạm giữ được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhận dân huyện H).
- Về án phí:
Buộc bị cáo cáo Lê Quốc Đ phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm 22.400.000 (hai mươi hai triệu bốn trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5/ Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thành Danh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Lý Thành Danh |
Bản án số 132/2024/HS - ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 132/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 6 năm tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
