Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2024/DS-PT

Ngày: 07 - 8 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng dịch vụ và

hợp đồng mua bán.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Khải

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Bằng

Bà Đào Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Cao Kiều Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Dương Thanh Giềng – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 02 và 07 tháng 8 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 06/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 2 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ và hợp đồng mua bán”

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 81/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐPT-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 84/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 5 năm 2024 và Thông báo về việc dời ngày xét xử số 23/TB-TA ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc S; Địa chỉ ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
  2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Võ Minh T – Văn phòng L Chi nhánh H – Đoàn Luật sư thành phố C; Địa chỉ ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  3. Bị đơn: Ông Dương Văn V; Địa chỉ ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Địa chỉ tạm trú ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
  4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc S và bị đơn ông Dương Văn V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc S trình bày: Vào ngày 01/8/2017, ông Dương Văn V có nhận nâng trọng tải chiếc ghe tải trọng từ 19 tấn lên 30 tấn, chiếc ghe mua lại của người khác và chưa sang tên, có số đăng kiểm số 3683, máy ISUZU 30 mã lực, hợp số, chận vịt 7,2 tấc. Theo thỏa thuận tiền công ông S phải trả cho ông V là 45.000.000 đồng, ông S đã đặt cọc trước cho V là 25.000.000 đồng. Sau khi giao ghe, ông V đã không tiến hành nâng tải trọng mà tháo ghe lấy gỗ đóng ghe khác, máy thì mang đi bán khi chưa được sự đồng ý của ông S. Khi ông S phát hiện sự việc thì có đến gặp V, lúc này ông V mới lập hợp đồng sửa ghe cho ông S, ký ngày 19/02/2018, đồng thời ông V mới thỏa thuận với ông S là ông sẽ giao cho ông S chiếc ghe trọng tải 70 tấn, biển số AG-06714H kèm theo máy. Đồng thời ông S phải giao cho ông V thêm chiếc ghe 17 tấn và trả thêm cho ông V là 10.000.000 đồng. Ông S cũng đồng ý, việc thỏa thuận này hai bên có lập hợp đồng mua bán ký ngày 17/4/2021, ông S đưa trước cho ông V số tiền là 2.500.000 đồng và mua đồ phụ vào chiếc ghe là 77.380.000 đồng, đồng thời ông V cũng có lập tờ cam kết trong thời gian từ ngày 17/4/2021 đến ngày 02/6/2021 sẽ hoàn thành giao ghe cho ông S, nếu không đúng thì ông V phải có trách nhiệm bồi thường hợp đồng, ngày công thiệt hại tài sản cho ông S. Nhưng sau đó ông V không thực hiện đúng hợp đồng và đến nay không giao ghe cho ông S, làm thiệt hại đến việc làm ăn của ông S. Tổng thiệt hại kinh tế về tài sản của 03 chiếc ghe 19 tấn, 17 tấn và 70 tấn từ ngày ông S giao ghe cho ông V sửa chữa là 1.624.680.000 đồng, trong đó 77.380.000 đồng, tiền sửa ghe 70 tấn và 1.307.300.000 đồng tiền ghe 19 tấn cùng tiền mất thu nhập do không hoạt động từ ngày 01/8/2017 đến ngày 01/12/2022, mỗi ngày là 500.000 đồng, tiền bồi thường thiệt hại ghe 17 tấn đã ngưng hoạt động từ ngày 17/4/2021 đến ngày 25/12/2022, mỗi ngày là 400.000 đồng, ghe sử dụng để đi bơm cát cho các hộ dân. Đối với các chi phí sửa ghe 70 tấn và chi phí sửa ghe 19 tấn thì không có hóa đơn chứng từ gì, việc thuê nhân công làm ở địa phương cũng không xác định rõ cụ thể, do ghe có sửa ở nhiều vị trí khác nhau nên ông S gom lại thành ngày công, những người sửa ghe hiện tại cũng đi làm nhiều nơi, không xác định được. Khi giao ghe 19 tấn cho ông Vũ s thì trên ghe có có máy Isuzu 30 mã lực, hộp số, chân vịt, về máy trong thì khi mua ghe đã có, khi giao ghe cho ông V thì ghe đang hoạt động và di chuyển được trên sông, neo mũi, láy, dây neo thì gắn liền với ghe. Về ghe 70 tấn khi đó thỏa thuận giao ghe cho ông S nên ông S có sửa chữa, mua trang thiết bị lắp dầu trong, mua 02 tờ mũi láy + dây, một máy Sirora kéo neo, cần kéo hộp số + 02 dây gô, 02 Bình ác Quy H, một cục sạc bình ác qui, vệ sinh máy Hi No6, 02 can nhớt, 03 can dầu 90 lít, phi đựng dầu, tiền công thợ hàn, thợ mộc 90 ngày, ông S yêu cầu ông V hoàn trả những chi phí này lại cho ông S. Trường hợp nếu ông V đồng ý giao ghe 70 tấn cho ông S, thì ông S đồng ý giao ghe 17 tấn và số tiền 7.500.000 đồng còn lại cho ông V, nhưng

ông V phải và lườn, chét chay, đúng an toàn kỹ thuật, máy phải hoạt động, không khí thải và ông V phải đảm bảo ghe phải hoạt động di chuyển được. Đồng thời, ông V phải đảm bảo ghe chính chủ, đồng thời ghe phải sữa chữa ghe đúng quy cách để có thể đăng kiểm được với cơ quan đăng kiểm bởi theo giấy đăng kiểm ban đầu là ghe có tải trọng 45 tấn không phải là 70 tấn và máy có hiệu HINO6, không đúng với đăng kiểm là máy ISUZU6. Đối với ghe 17 tấn thì hiện tại đang quản lý nhưng đã bị chìm do khi đó ông S giao cho ông V nhưng ông V không nhận và không giao ghe 70 tấn cho ông S.

Bị đơn ông Dương Văn V trình bày: Vào năm 2017 ông Nguyễn Ngọc S có thuê ông Vũ sửa lại ghe tải trọng 19 tấn, ông S yêu cầu nâng tải trọng lên là 30 tấn, giá thỏa thuận giữa hai bên là 45.000.000 đồng, ông S đặt cọc trước là 25.000.000 đồng. Việc sửa ghe hai bên có làm hợp đồng viết tay. Trước khi sửa ghe thì có xem ghe và kiểm tra nhưng sau khi ông V tiến hành sửa ghe thì ông V phát hiện chiếc ghe hư hỏng nặng, không thể sửa được nên ông V mới gọi điện cho ông S nhưng không được, đồng thời có ra nhà ông S thì những người dân xung quanh nói ông S không còn địa phương. Khi đó ông V mới tháo ghe ông S ra lấy ván để sửa ghe khác và bán máy của ông S. Khoảng năm 2020 ông S mới tìm ông V, lúc này ông V có chiếc ghe 70 tấn và thỏa thuận với ông S là ông V sẽ sửa lại ghe 70 tấn và giao ông S, ông S phải đưa thêm ông V 10.000.000 đồng và 01 chiếc ghe tải trọng 17 tấn còn vận chuyển được của ông S.

Khi đó ông V tiến hành sửa chiếc ghe 70 tấn, trong đó thời gian sửa diễn ra lâu là do dịch COVID-19. Ông V có yêu cầu ông S giao ghe 17 tấn và 10.000.000 đồng cho ông V nhưng khi lấy ghe thì ghe đã bị chìm, không sử dụng được nên ông V không đồng ý và tiếp tục thỏa thuận với ông S, nếu muốn lấy ghe 70 tấn thì phải đưa thêm số tiền là 20.000.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền sửa ghe nhưng ông S không đồng ý. Nay ông V đồng ý giao ghe 70 tấn cho ông S nhưng ông S phải đưa thêm ông V số tiền là 20.000.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền sửa ghe. Về ghe 70 tấn khi đó thỏa thuận giao ghe cho ông S, thì ông V sửa chữa bên ngoài, giao ghe cùng với máy cho ông S, còn về bên trong và việc mua sắm trang thiết bị thì ông S tự thực hiện như làm dầu trong ghe, mua 02 tờ mũi láy + dây, một máy Sirora kéo neo, cần kéo hộp số + 02 dây gô, 02 Bình ác Quy H, một cục sạc bình ác qui, vệ sinh máy Hi No6, 02 can nhớt, 03 can dầu 90 lít, phi đựng dầu. Về số tiền, cũng như giá, chi phí bỏ ra ông V không xác định được. Đối với những chi phí này ông S tự bỏ ra thì ông S tự chịu ông V không đồng ý trả cho ông S, mặc dù ghe do ông V đang quản lý.

Trường hợp ông S giao ghe 17 tấn cho ông V nếu ông S đã sữa chữa vận chuyển được thì ông V đồng ý nhận ghe và nhận thêm số tiền 7.500.000 đồng còn lại.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 81/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Ngọc S về yêu cầu bồi thường thiệt hại cho ghe 19 tấn.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Ngọc S về hợp đồng mua bán ghe giấy đăng ký số AG – 6714H.

Tuyên bố hợp đồng mua bán ghe ngày 14/7/2021 giữa các đương sự là vô hiệu.

Buộc bị đơn Dương Văn V phải trả cho nguyên đơn Nguyễn Ngọc S tổng số tiền là 87.880.000 đồng (T1 mươi bảy triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).

Buộc ông Dương Văn V trao trả 01 máy sirora kéo neo, 02 bình ác quy 85Am, 01 cục sạc bình ác quy, 02 phao cứu hộ, 02 đèn xanh đỏ, đèn báo hiệu, 04 đền thắp sáng trong muôi, 01 quạt gió ác quy, bộ bạc D7, 01 phi đựng dầu cho ông Nguyễn Ngọc S.

Buộc ông Nguyễn Ngọc S giao trả Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa tên chủ phương tiện là Trần Văn N, giấy đăng ký số AG – 6714H cho ông Dương Văn V.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm trả án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.

Ngày 04 tháng 10 năm 2023, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc S và ông Dương Văn V có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung:

Nguyên đơn Nguyễn Ngọc S yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 81/2023/DS-ST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần thiệt hại do nguyên đơn bị mất thu nhập và các trang thiết bị nguyên đơn đã mua để tu bổ, sửa chữa ghe là 1.536.800.000 đồng (đã khấu trừ 87.880.000 đồng Tòa án đã chấp nhận).

Bị đơn Dương Văn V yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thỏa thuận về sửa ghe, bị đơn đồng ý giao chiếc ghe 70 tấn theo thỏa thuận, nguyên đơn giao trả số tiền còn lại là 27.500.000 đồng, trong đó 20.000.000 đồng là số tiền thỏa thuận bù vào số tiền giao ghe 70 tấn và 7.500.000 đồng bị đơn còn nợ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn, luật sư của nguyên đơn xin rút lại phần yêu cầu mất thu nhập đối với ghe 17 tấn các phần khác giữ nguyên và có bản kê ngày 01/8/2024 kèm theo.

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo yêu cầu tiếp tục thỏa thuận nguyên đơn giao tiếp cho bị đơn 27.500.000đ bị đơn giao ghe 47 tấn đã nâng 70 tấn cho nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng, quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Về hợp đồng sửa ghe 19 tấn hai bên thống nhất chi phí sửa chữa cũng như tài sản trên ghe khi giao ghe để sửa chữa. Việc giữa ông S và ông V có xác lập hợp đồng sửa chữa ghe là có thật, ông V đã nhận ghe và ông S

đã giao trước số tiền cọc là 25.000.000 đồng. Ông V đã nhận tiền và đã nhận ghe của ông S thì ông V phải có nghĩa vụ thực hiện đúng như hợp đồng đã giao kết và có trách nhiệm giữ gìn, bảo quản tài sản của ông S. Trường hợp phát hiện tài sản có hư hỏng hay công việc không thể thực hiện được thì ông V phải thông báo ngay cho ông S, nhưng sau đó ông V cho rằng không liên hệ được ông S nên đã tháo ghe và bán máy trên ghe của ông S, trong khi chưa có được sự đồng ý của ông S theo khoản 3, khoản 4 khoản 6 Điều 517 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì ông V đã vi phạm nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ là đã làm mất tài sản của ông S nên xét về lỗi dẫn đến hợp đồng không thể thực hiện được là của ông V, ông V phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tài sản của ông S bị mất và hoàn trả lại số tiền 25.000.000 đồng đã nhận, do công việc không được thực hiện. Đối với tài sản là ghe 19 tấn hiện đã không còn, Toà án cấp sơ thẩm xác định theo giấy mua bán ghe ngày 29/8/2016 giữa ông Nguyễn Ngọc S và ông Trần Văn M có mua bán ghe 19 tấn với giá là 40.000.000 đồng, buộc ông V bồi thường giá trị của ghe 19 tấn với số tiền là 40.000.000 đồng và đòi lại số tiền đặt cọc là 25.000.000 đồng là có cơ sở. Về tài sản trên ghe 19 tấn, nguyên đơn căn cứ vào các hoá đơn mà nguyên đơn đã mua trước đây để yêu cầu bị đơn trả lại đúng với giá trị lúc mua gồm máy là 19 triệu, hộp số 7 triệu và chân vịt là 2,5 triệu. Tuy ông Vũ b với giá 4.000.000 đồng, hộp số với giá thị trường là 6.000.000 đồng và chân vịt máy là 1.500.000 đồng. Do đó cấp sơ thẩm buộc ông V trả lại đúng giá trị đã bán cho ông S là có căn cứ. Đối với hợp đồng mua bán ghe 70 tấn (theo giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa là 47 tấn), các đương sự làm giấy mua bán ghe số đăng ký AG – 6714H ngày 14/7/2021. Giấy mua bán ghe ngày 14/7/2021 không ghi nhận cụ thể về giá mua bán, cũng như các thỏa thuận khác về thời gian giao nhận ghe, các thông tin liên quan đến ghe, chủ phương tiện là Trần Văn N, không phải tên của ông V. Như vậy, hợp đồng mua bán ghe giữa ông V và ông S không đảm theo quy định của pháp luật và không thể thực hiện được nên vô hiệu theo quy định tại Điều 122 BLDS, các bên có lỗi ngang nhau nên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và không phải bồi thường. Đối với ghe 70 tấn từ thời điểm mua bán đến nay thì ông V vẫn đang quản lý, ông V đã nhận số tiền 2.500.000 đồng từ ông S nên ông V có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông S. Về chi phí mà ông S đã bỏ ra ông V xác định có thỏa thuận sửa ghe 70 tấn là ông V sẽ sửa chữa bên ngoài, còn ông S sẽ sửa chữa bên trong. Sau khi kháng cáo ông S có bổ sung các hoá đơn mà ông S cho rằng đã mua dụng cụ để sửa chữa, tu bổ cho ghe 70 tấn. Ông V thừa nhận và xác định một số chi phí cụ thể gồm: dầu trong là giá mỗi can là 1.000.000 đồng, với 3 can thì có giá là 3.000.000 đồng, cần kéo hợp số là 1.200.000 đồng, N1 là 02 can, mỗi can 1.000.000 đồng, tổng là 2.000.000 đồng, 03 can dầu là 1.980.000 đồng, vệ sinh máy là 600.000 đồng, 02 hợp sơn 100.000 đồng. Tổng chi phí mà ông S đã tu bổ vào ghe 70 tấn là 8.880.000 đồng. Xét thấy, những dụng cụ này đã tu bổ vào ghe và không di chuyển được và ghe hiện tại do bị đơn đang quản lý nên bị đơn có trách nhiệm trả lại giá trị cho nguyên đơn. Về tài sản không gắn liền với ghe và có thể di chuyển được, cấp sơ thẩm tuyên giao trả lại cho nguyên đơn nguyên đơn không đồng ý. Tại các phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn không yêu

cầu xem xét thẩm định lại, do đó cũng không thể xác định hiện tại còn lại các tài sản gì, nhưng bị đơn tự nguyện giao lại các tài sản như bản án sơ thẩm đã tuyên và không có kháng cáo về phần này. Về tiền công thợ hàn 45 ngày là 18.000.000 đồng và tiền công nhân thợ mộc là 13.500.000 đồng; về bồi thường mất thu nhập của ghe 19 tấn, và ông S cung cấp hoá đơn vận chuyển cát cho khách hàng nhưng theo ông S các hoá đơn này là do ông mua về và tự điền số lượng và tiền vào nên các yêu cầu này không có cơ sở xem xét; về bồi thường mất thu nhập của ghe 17 tấn: Tại phiên toà ông S rút lại yêu cầu bồi thường thiệt hại này nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 289 BLTTDS đình chỉ đối với yêu cầu này. Về yêu cầu của ông V tiếp tục thực hiện hợp đồng, như trên đã phân tích Hội đồng xét xử đã động viên để các bên về thương lượng, thoả thuận lại để tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng nguyên đơn không đồng ý vẫn yêu cầu bị đơn bồi thường nên kháng cáo của ông V là không có cơ sở xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh tụng và tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Vào ngày 01/8/2017, nguyên đơn Nguyễn Ngọc S và bị đơn Dương Văn V có thỏa thuận: Ông V sửa chữa và nhận nâng trọng tải chiếc ghe tải trọng từ 19 tấn lên 30 tấn (gọi chung ghe 19 tấn), tiền công ông S phải trả cho ông V là 45.000.000₫, ông S đã đặt cọc trước cho V là 25.000.000đ; Việc thỏa thuận không làm giấy tờ. Đến ngày 19/02/2018 bị đơn chưa làm nên hai bên có bản thỏa thuận lại, ông V sẽ giao cho ông S chiếc ghe trọng tải 47 tấn, biển số AG-06714H kèm theo máy, nâng lên ghe 70 tấn (gọi chung ghe 47 tấn) để bù trừ vào chiếc chiếc ghe 19 tấn của ông S đã giao cho ông V vào ngày 01/8/2017 (ông V được sử dụng ghe 19 tấn) và số tiền ứng trước 25,000.000đ, đồng thời ông S phải giao thêm cho ông Vũ ghe 17 tấn và trả thêm cho ông V là 10.000.000₫. Ông S cũng đồng ý, việc thỏa thuận này hai bên có lập hợp đồng mua bán ký ngày 17/4/2021 và ông V cũng có lập tờ cam kết đến ngày 02/6/2021 sẽ hoàn thành giao ghe cho ông S. Ông S đưa trước cho ông V số tiền là 2.500.000₫. Do hai bên không thực hiện đúng theo hợp đồng nên phát sinh tranh chấp. Nguyên đơn cho rằng bị đơn ông V không thực hiện đúng hợp đồng và đến nay không giao ghe cho ông S, làm thiệt hại đến việc làm ăn của ông S có bản kê kèm theo đơn kháng cáo. Bị đơn thì cho rằng, ông cũng đã tiến hành hoàn thiện chiếc ghe 70 tấn để giao cho ông S, nhưng trong khoảng thời gian này do dịch COVID-19 kéo dài dẫn đến hoàn thiện ghe giao cho ông S không đúng thời gian, nhưng ông cũng cố gắng hoàn thiện giao cho ông S; Tuy nhiên đến ngày 26/10/2022 giao ghe, ông S cũng đã đẩy ghe xuống sông nhưng chưa giao ghe 17 tấn và trả đủ tiền, nên ông V không cho ông S lấy ghe, sau đó ông có đến nhà ông S để xem ghe thì ghe đã bị chìm, không sử dụng được, nên ông V không đồng ý và yêu

cầu ông S, nếu muốn lấy ghe 70 tấn thì phải đưa thêm số tiền là 20.000.000₫ và 10.000.000đ tiền sửa ghe nhưng ông S không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.

[2] Từ lời trình bày của các đương sự cho thấy, các bên thống nhất với nhau về thời gian, số ghe thỏa thuận trong giao dịch gồm ghe 19 tấn (nâng tải lên 30 tấn), ghe 47 tấn (nâng tải lên 70 tấn) và ghe 17 tấn cùng với số tiền trả nguyên đơn trả trước 27.500.000đ (Trong đó, 25.000.000đ trả trước khi thỏa thuận nâng tải ghe 19 tấn và 2.500.000₫ trả trước khi thỏa thuận hoàn thiện nâng tải ghe 47 tấn). Sự thống nhất giữa các bên là chứng cứ để Hội đồng xét xử giải quyết.

[3] Nhận thấy, giữa nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận sửa chữa và nâng trọng tải đối với ghe 19 tấn không lập hợp đồng, sau đó đến ngày 17/4/2021 hai bên có lập hợp đồng mua bán và ông V cũng có lập tờ cam kết đến ngày 02/6/2021 sẽ hoàn thành giao ghe 47 tấn. Xét thỏa thuận và ký kết hợp đồng giữa nguyên đơn ông S và bị đơn ông V không tuân thủ quy định của pháp luật về hình thức và nội dung không rõ ràng, không ghi nhận cụ thể về giá trị tài sản giao nhận, không có sự ràng buộc về trách nhiệm bị đơn vi phạm thời gian, nguyên đơn vi phạm nghĩa vụ giao phương tiện 17 tấn và trả đủ tiền. Giao dịch dẫn đến ký kết của các bên không đúng chủ thể, nguyên đơn và bị đơn chưa có đầy đủ quyền sở hữu đối với tài sản cụ thể nguyên đơn đã dùng chiếc ghe do tên người khác đăng ký chủ sở hữu chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền cho nguyên đơn và nguyên đơn đã thỏa thuận với bị đơn nâng tải từ ghe 19 tấn lên 30 tấn và đưa thêm ghe 17 tấn cũng không phải nguyên đơn đứng tên chủ sở hữu giao dịch đổi bù trừ với bị đơn. Đối với bị đơn thì dùng ghe của ghe 47 tấn tên chủ sở hữu là Trần Đại N2 nâng tải lên 70 tấn. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 25 của Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì phương tiện giao thông đường thủy nội địa phải đăng ký lại khi chuyển quyền sở hữu; Hợp đồng của các bên là vi phạm và trái với quy định của pháp luật, nên cấp sơ thẩm tuyên bố vô hiệu là có cơ sở. Như vậy việc thỏa thuận và hợp đồng ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn không đảm theo quy định của pháp luật và không thể thực hiện được nên vô hiệu, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và ai có lỗi phải bồi thường. Như nhận định trên thì cả nguyên đơn và bị đơn đều có lỗi, nên thiệt hại có xảy ra thì cả hai cùng chịu trách nhiệm.

[4] Đối với ghe 19 tấn: Ông Vũ thừa n có nhận của ông S ghe và máy và số tiền cọc 25.000.000₫.

[4.1] Về giá trị ghe 40.000.000đ và tiền cọc 25.000.000₫ cấp sơ thẩm đã giải quyết, các đương sự không kháng cáo nên không xem xét lại.

[4.2] Đối với tài sản trên ghe gồm máy và các phụ kiện kèm theo: Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu bị đơn bồi thường theo bản kê tại tòa là 1.059.520.000₫ bao gồm các khoản: Như đặt máy Isuzu, vật liệu gỗ gián xề, sửa vệ sinh đề, sạc bình, chân vịt T2, hợp số thủy, cần kéo hợp số, dây ga, dây số, neo mũi và dây neo, bình ac quy Đồng Nai A, máy Isuzu, so mi, má cốt, béc, bơm nhớt, kiềm, đắp trích và chi phí vật chuyển (mất thu nhập) có bản kê chi tiết ngày 01/8/2024 kèm theo. Hội đồng xét xử nhận thấy, khi giao ghe các bên không xác lập hợp đồng ghi nhận tài sản theo ghe là những gì, lời trình bày của nguyên đơn chỉ

được bị đơn thừa nhận có máy, hộp số và chân vịt máy nhưng không thống nhất giá mà nguyên đơn yêu cầu; Xét chứng cứ nguyên đơn cung cấp là hóa đơn ghi tay thông thường không phải là hóa đơn tài chính, nguyên đơn không cung cấp được chứng gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình. Cấp sơ thẩm căn cứ thừa nhận của bị đơn máy bán 4.000.000đ, hộp số là 6.000.000₫ và chân vịt máy là 1.500.000đ. tổng số tiền buộc bị đơn trả giá trị tài sản trên ghe 19 tấn là 11.500.000₫ là phù hợp. Các yêu cầu khác do nguyên đơn kê để yêu cầu là vật dụng, thiết bị gắn liền với máy, tuy nhiên về máy đã xác định giá trị bị đơn bán là 4.000.000₫ nên các vật dụng đi kèm bao gồm giá trị máy. Mặt khác, nguyên đơn chưa chứng minh được khi mua ghe 19 tấn giá 40.000.000đ có bao gồm máy hay không, cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả 40.000.000đ tiền ghe và trả thêm 4.000.000đ tiền máy, bị đơn không kháng cáo phần này là có lợi cho nguyên đơn, do đó đối với kháng cáo này của nguyên đơn không có cơ sở để chấp nhận.

[4.3] Đối với chi phí mất thu nhập 940.000.000đ: Nhận thấy khi nguyên đơn giao ghe cho bị đơn để nâng trong tải là đã xác định khoảng thời gian trên ghe không thể hoạt động, các bên cũng không có thỏa thuận với nhau về trách nhiệm bồi thường, giao dịch ghe 19 tấn đã được các bên thông nhất trao đổi bù trừ từ ghe 19 tấn với ghe 47 tấn mà cũng không gàng buộc trách nhiệm bồi thường; Thời điểm hai bên thỏa thuận ngay dịch bệnh Covid-19 là nguyên nhân khách quan. Mặt khác, chứng cứ nguyên đơn chứng minh mỗi ngày mất thu nhập 500.000₫ là hóa đơn xác nhận viết tay không là hóa đơn tài chính không chứng minh về thu nhập hàng ngày cũng như thiệt hại thiệt tế xảy ra nên không có căn cứ chấp nhận.

[5] Đối với ghe 47 tấn: Ông V thừa nhận có nhận của ông S 2.500.000đ.

[5.1] Cấp sơ thẩm đã giải quyết buộc ông V có nghĩa vụ trả ông S 27.500.000 đồng các đương sự không kháng cáo nên không giải quyết lại.

[5.2] Nguyên đơn kháng cáo cho rằng, trong thời gian thi công nâng tải ghe từ 47 tấn lên 70 tấn nguyên đơn làm các bộ phận bên trong ghe và có bỏ ra các khoản chi phí là 80.698.000₫ bao gồm các khoản: 06 cal dầu thái, 02 cây cột, 01 tời lớn, 01 tời nhỏ, 01lania, 01 máy Sirora, 01 quạt gió ac quy, 01sạc bình ac quy, 4đèn led xe, 10m dây điện, 2 bình Đồng Nai H, 02 cal nhớt máy,02 phao cứu hộ, 01 đèn chớp, 01 đèn đuôi cá, 90 lít dầu Diezen, 50m cáp 14ly, 01 neo xếp, 01 phi đựng dầu, phục hồi 4 ty, thay 4 cuppee, phục hồi bơm phụ, bạc bạn cối, cây cân chỉnh, thay 04 béc, cao su lót, 01 bo ấm, dây lướt 14ly, 3m sắt típ 60, 01 bơm nhớt, 01 bô bạc D7, 01 miến dên D7, 25 cuồi xoáy 10.12, 500 táng 10.12, 500 long đền A, 10 kg đinh 04 phân, 10kg đinh 5 phân, 10kg đinh 8 phân + 10 phân, 01 hợp sơn đỏ + trắng, 02 hợp sơn bạc, 02 sơn xanh + đen, cây cọ 5 phân, 01 bộ lọc dầu, 01 bộ lọc nhớt, 04 m dây đề, 04 kẹp cột phao AQ, 10m dây điện 2.5, 01 đèn pha, Thợ vệ sinh cục đề, 45 ngày công thọ hàn, 45 ngày công thợ mộc có bản kê chi tiết ngày 01/8/2024 kèm theo và yêu cầu bị đơn bồi thường. Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là bản kê và các chứng từ hóa đơn viết tay không được bị đơn thừa nhận. Do tài sản là vật dụng thiết bị mà nguyên đơn cho rằng lắp đặt, sửa chữa theo bản kê của nguyên đơn không được bị đơn thừa

nhận, nên Hội đồng xét xử đã phân tích, giải thích cho nguyên đơn, luật sư của nguyên đơn về quyền yêu cầu thẩm định, xác minh và định giá tài sản nhưng nguyên đơn vẫn không yêu cầu. Xét thấy, nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là quyền của nguyên đơn, nhưng nguyên đơn từ chối quyền xem xét thẩm định để chứng minh tài sản của nguyên đơn, do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

[5.3] Quá trình gia công nâng trọng tải ghe, giữa ông V và ông S chưa bàn giao ghe, không có thỏa thuận gì về việc nguyên đơn có nghĩa vụ lắp đặt các bộ phận bên trong ghe, khi ghe chưa được bàn giao; Vật dụng thiết bị mà nguyên đơn cho rằng lắp đặt, sửa chữa không xác định hiện trạng và chứng cứ chứng minh chỉ có bản kê và hóa đơn viết tay. Nhận thấy, Bảng kê là tự nguyên đơn lập không được bị đơn thừa nhận; Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là các hóa đơn viết tay không phải là hóa đơn tài chính, không có giá trị pháp lý; giá trị ghi nhận trên hóa đơn không được ông V thừa nhận, nên không đủ căn cứ chấp nhận chứng cứ của nguyên đơn làm cơ sở giải quyết vụ án. nên kháng cáo của nguyên đơn đối với ghe 47 tấn không có cơ sở chấp nhận.

[5.4] Đối với phần nhận định [8] của bản án sơ thẩm nhận định bị đơn ông V trả giá trị chi phí ông S đã tu bổ vào ghe 70 tấn 8.880.000₫ và trách nhiệm bị đơn trả lại giá trị cho nguyên đơn 01 máy sirora kéo neo, 02 bình ác quy 85Am, 01 cục sạc bình ác quy, 02 phao cứu hộ, 02 đèn xanh đỏ, đèn báo hiệu, 04 đền thắp sáng trong muôi, 01 quạt gió ác quy, bộ bạc D7, 01 phi đựng dầu bị đơn không kháng cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

[6] Đối với kháng cáo yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn tiền mất thu nhập ghe 17 tấn là 191.600.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút lại kháng cáo; Do đó hội đồng xét xử căn cứ Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ phúc thẩm đối với kháng cáo yêu cầu số tiền 191.600.000₫.

[7] Xét kháng cáo của bị đơn Dương Văn V: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thỏa thuận về sửa ghe, bị đơn đồng ý giao chiếc ghe 70 tấn theo thỏa thuận, nguyên đơn giao trả số tiền còn lại là 27.500.000đ, như nhận định tại [3] hợp đồng giữa các bên không tuân thủ hình thức, nội dung, vi phạm điều cấm của pháp khi cả hai đều không phải là chủ sở hữu tài sản, chưa được chủ sở hữu hợp pháp chuyển quyền hoặc giao quyền, nên hợp đồng trên là vô hiệu. Do đó, kháng cáo của bị đơn yêu cầu tiếp tục hợp đồng không có căn cứ pháp lý để chấp nhận.

Từ những nhận định trên xét thấy, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới hợp pháp chứng minh cho yêu cầu của mình; do đó không có cơ sở để chấp nhận. Đối với kháng cáo của bị đơn do giao dịch vô hiệu nên yêu cầu tiếp tục hợp đồng không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Có căn cứ chấp nhận đề nghị của Đại diện kiểm sát nhân dân tỉnh H; Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, Điều 123, Điều 131, Điều 513, Điều 514, Điều 515, Điều 516, Điều 517, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 25 của Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004, sủa đổi, bổ sung năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 81/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Ngọc S về việc yêu cầu chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Dương Văn V yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thỏa thuận, bị đơn giao ghe 47 tấn và nguyên đơn giao trả số tiền là 27.500.000₫ (Hai mươi bảy triệu năm trăm ngàn đồng).
  3. Đình chỉ một phần kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Ngọc S đối với yêu cầu số tiền mất thu nhập của ghe 17 tấn.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ chậm trả, các nhận định và quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết, có hiệu lực pháp luật theo quyết định sơ thẩm.
  5. Án phí dân sự phúc thẩm:
  6. Nguyên đơn Nguyễn Ngọc S thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn nộp án phí phúc thẩm.

    Bị đơn Dương Văn V phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng); Chuyển 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo lai thu số PT2024/29 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 07/8/2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND huyện P;
  • - CC THADS huyện P;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Hoàng Khải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/DS-PT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng dịch vụ và hợp đồng mua bán.

  • Số bản án: 132/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ và hợp đồng mua bán.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Nguyễn Ngọc S yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 81/2023/DS-ST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần thiệt hại do nguyên đơn bị mất thu nhập và các trang thiết bị nguyên đơn đã mua để tu bổ, sửa chữa ghe là 1.536.800.000 đồng (đã khấu trừ 87.880.000 đồng Tòa án đã chấp nhận). Bị đơn Dương Văn V yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thỏa thuận về sửa ghe, bị đơn đồng ý giao chiếc ghe 70 tấn theo thỏa thuận, nguyên đơn giao trả số tiền còn lại là 27.500.000 đồng, trong đó 20.000.000 đồng là số tiền thỏa thuận bù vào số tiền giao ghe 70 tấn và 7.500.000 đồng bị đơn còn nợ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger