|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 132/2022/HS-ST Ngày 06 - 12 - 2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa và bà Đào Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Thuận - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Minh Thuận, Kiểm sát viên.
Ngày 06/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 132/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 tại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ĐKHKTT: Số A đường L, khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nơi cư trú: Khu F, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị N; có chồng Trịnh Đức Đ (Đã ly hôn) và một con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; có mặt.
-
Nguyễn Khánh N1, sinh năm 1983 tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nơi ĐKHKTT: Số D đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: P407 Tòa B Hongkong Tower, số 243a Đê L, phường L, quận Đ, Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu D (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hải L; Chồng con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/8/2023 đến ngày 31/8/2023 được tại ngoại; tạm giam: Không; có mặt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
+ Nguyễn Chí T1, sinh năm 1984; Trú tại: Số 54 phố Phùng Khắc Khoan, phường Quang Trung, thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.
-
+ Chị Đỗ Thị T2, sinh năm 1996; Trú tại: Thôn Khả Lý Thượng, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
-
+ Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2000; Trú tại: Khu phố Vũ, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
-
+ Lê Trung K, sinh năm 1981; Trú tại: Tổ 11, phường Thạch Bàn, quận Long Biên, Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị T trước đây làm nghề kế toán, sau đó chuyển sang lao động tự do. Quá trình sử dụng mạng xã hội Zalo, T biết Nguyễn Khánh N1 có bán hóa đơn giá trị gia tăng nên đã liên lạc, mua hóa đơn của N1 qua Zalo với chi phí 8,3% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn và một số hóa đơn của các Công ty khác nhằm mục đích bán lại để kiếm lời.
Cụ thể, T đã mua của Nguyễ Khánh N2 tổng cộng 17 hóa đơn của 05 công ty như sau:
-
- 01 hóa đơn của Công ty TNHH MTV T9 (gọi tắt là Công ty T9), MST: 0109456224, địa chỉ trụ sở: Số I, ngõ G G, phường K, quận B, TP Hà Nội do Nguyễn Khánh N1 làm Giám đốc:
-
+ Hóa đơn số 789 ngày 23/5/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 8.890.000 đồng;
-
-
- 11 hóa đơn của công ty TNHH D2 K (gọi tắt là Công ty D2 K), MST: 0105593283, địa chỉ trụ sở: Số C Ngõ F phố T, phường N, quận Đ, TP Hà Nội do chị Lê Thị Kim A làm Giám đốc:
-
+ Hóa đơn số 1493 ngày 29/3/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 4.990.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 1525 ngày 30/3/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 1.200.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 1542 ngày 31/3/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 1.400.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 1602 ngày 04/4/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 1.410.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 1620 ngày 05/4/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 5.212.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 1738 ngày 11/4/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 14.255.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 1813 ngày 14/4/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 2.600.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 1851 ngày 15/4/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 2.500.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 2010 ngày 21/4/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 8.050.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 2356 ngày 15/5/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 10.050.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 15 ngày 14/6/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 6.704.000 đồng;
-
-
- 03 hóa đơn của Công ty TNHH MTV P1 (gọi tắt là Công ty P1), MST: 0109098498, địa chỉ trụ sở: Số A, ngách B G, phường K, quận B, TP Hà Nội do chị Nguyễn Thị 1 Giám đốc, gồm:
-
+ Hóa đơn số 1729 ngày 25/4/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 7.050.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 2124 ngày 27/5/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 13.865.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 2143 ngày 29/5/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 11.050.000 đồng;
-
-
- 01 hóa đơn của công ty TNHH MTV K1 (gọi tắt là Công ty K1), MST: 0109106389, địa chỉ trụ sở: Số F Đ, phường Q, quận Đ, TP Hà Nội do ông Nguyễn Văn T3 làm Giám đốc, gồm:
-
+ Hóa đơn số 2109 ngày 25/5/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 6.875.000 đồng;
-
-
- 01 hóa đơn của công ty TNHH Đ1 (gọi tắt là Công ty Đ1), MST: 0109334138, địa chỉ trụ sở: Số D V, phường L, quận B, TP Hà Nội do chị Nguyễn Kim T4 làm Giám đốc:
-
+ Hóa đơn số 2338 ngày 20/4/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 10.140.000 đồng;
-
Những công ty này đều do Nguyễn Khánh N1 cùng với chị Nguyễn Kim T4, chị Lê Thị Kim A, ông Nguyễn Văn T3 và chị Nguyễn Thị P góp vốn thành lập. Trong đó, chị T4 là người quản lý, điều hành hoạt động của cả 05 công ty, chị Ngô Thị L1 làm kế toán, xuất hóa đơn và Nguyễn Khánh N1 là người theo dõi việc xuất hóa đơn của 05 công ty. Từ tháng 3/2023 đến tháng 6/2023, có một số khách đến ăn tại nhà hàng nhưng không lấy hóa đơn, Nguyễn Khánh N1 đã sử dụng những hóa đơn đó yêu cầu chị Ngô Thị L1 xuất 17 hóa đơn của 05 công ty chuyển cho N1 để N1 bán cho Nguyễn Thị T với phí 8,3% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn để kiếm lời. Nguyễn Khánh N1 sử dụng tài khoản Zalo "Nguyen K” số 0977384938 để trao đổi, liên lạc, gửi hóa đơn cho Nguyễn Thị T sử dụng tài khoản Zalo “Nguyen Thi T5” số 0984354311. Việc N1 bán hóa đơn thì N1 tự ý thực hiện, chị Nguyễn Kim T4, chị Lê Thị Kim A, chị Nguyễn Thị P, ông Ngô Văn T6, chị Ngô Thị L1 không biết.
Số tiền mà Nguyễn Thị T phải thanh toán cho Nguyễn Khánh N1 để mua 17 hóa đơn trên là 9.648.003 đồng nhưng đến nay T vẫn chưa thanh toán.
Ngoài 17 (mười bảy) hóa đơn mua của N1, T còn mua 07 (bảy) hóa đơn khác. Cụ thể như sau:
-
- 02 (hai) hóa đơn của Công ty cổ phần Đ2 (gọi tắt là công ty Đ2), MST: 0102458889, địa chỉ: số H ngõ F đường C, phường Q, quận C, TP Hà Nội với chi phí là 9% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn:
-
+ Hóa đơn số 310 ngày 30/3/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 2.502.900 đồng;
-
+ Hóa đơn số 346 ngày 30/3/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 9.472.000 đồng;
-
-
- 02 (hai) hóa đơn của công ty C1 (gọi tắt là công ty C1), MST: 0104904088, địa chỉ: H, phường D, quận H, TP Hà Nội với chi phí là 9,5% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn:
-
+ Hóa đơn số 4934 ngày 30/3/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 1.585.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 5195 ngày 06/04/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 2.145.000 đồng;
-
-
- 03 (ba) Hóa đơn của Công ty TNHH S (gọi tắt là công ty S), MST: 0107741219, địa chỉ: thôn Y, xã L, huyện T, TP Hà Nội với chi phí là 9% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn, gồm:
-
+ Hóa đơn số 00000097 ngày 04/04/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 8.800.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 00000102 ngày 05/04/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 9.500.000 đồng;
-
+ Hóa đơn số 00000114 ngày 15/04/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 9.554.545 đồng.
-
Với 04 (bốn) hóa đơn của hai công ty Đ2 và Gia Hoài L2, T mua của một người phụ nữ giới thiệu tên là L2 qua giao dịch trên mạng xã hội Zalo. Nguyễn Thị T không lưu lại thông tin gì về người phụ nữ này, chỉ nhớ là đã thanh toán tiền mua 04 hóa đơn của người này với số tiền là 1.300.000đồng.
Quá trình điều tra xác định, công ty Đ2 hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thiết vị văn phòng, dịch vụ, phần mềm; 02 (hai) hóa đơn mà công ty Đ2 xuất cho công ty V1 (được T bán cho công ty V1) là do khách vãng lai đến trực tiếp trụ sở công ty tại số A N, phường D, quận C, TP Hà Nội để mua hàng và đề nghị xuất hóa đơn. Công ty Đ2 khẳng định không bán 02 hóa đơn nói trên cho công ty V1.
Còn công ty cổ phần G trong lĩnh vực kinh doanh văn phòng phẩm. Công ty cổ phần C1 thuê thêm sinh viên làm việc thời vụ, ăn lương theo số lượng sản phẩm bán được, không có trong danh sách hưởng lương cố định của công ty. Công ty cổ phần C1 đã tiến hành rà soát nhưng không xác định được ai là nhân viên bán hàng của công ty đã báo về bộ phận kế toán để xuất 02 hóa đơn trên cho công ty V1. Công ty cổ phần C1 khẳng định luôn nghiêm cấm và không chỉ đạo nhân viên bán 02 hóa đơn nói trên.
Với 03 (ba) hóa đơn của công ty S, T mua của chị Nguyễn Thị H1. Cơ quan CSĐT - Công an T10 đã xác minh, làm việc với công ty S xác định: Công ty S hoạt động trong lĩnh vực mua bán máy tính, thiết bị điện tử. Chị Nguyễn Thị H1 là kế toán của công ty, được giao nhiệm vụ xuất hóa đơn. Do có quen với chị H1 từ trước nên Nguyễn Thị T đã nhờ chị H1 xuất khống cho T 03 hóa đơn để T bán. Do thấy công ty S thừa hóa đơn đầu vào nên chị H1 đã tự ý xuất 03 hóa đơn này mà không cho lãnh đạo công ty biết. Chị Nguyễn Thị H1 đã gửi 03 hóa đơn cho Nguyễn Thị T qua tin nhắn Zalo nhưng không lưu lại những tin nhắn này và cũng không được hưởng lợi gì.
Sau khi mua được các hóa đơn giá trị gia tăng nêu trên, Nguyễn Thị T đã có hành vi bán những hóa đơn cho 04 công ty để kiếm lời. Cụ thể T đã bán hóa đơn cho các công ty sau:
-
Công ty trách nhiệm hữu hạn V1 (gọi tắt là công ty V1), MST: 0109856409, địa chỉ: số D đường P, phường Q, TX S, TP Hà Nội do anh Lê Đức V, sinh năm 1994, nơi thường trú: thôn T, xã S, TX S, TP Hà Nội làm giám đốc.
Quá trình điều tra xác định, trong quá trình hoạt động, anh Trần Chí T7 là nhân viên công ty được giao mua sắm máy móc, ăn uống tiếp khách ... cho công ty nhưng không có hóa đơn giá trị gia tăng để thanh toán với công ty. Vì vậy, anh Trần Chí T7 đã lên mạng xã hội tìm mua hóa đơn. Qua tìm kiếm, anh T7 đã biết Nguyễn Thị T (tài khoản Zalo “Nguyen Thi Thin”) có bán hóa đơn nên anh T7 đã sử dụng tài khoản Zalo “Triệu Long” nhắn tin hỏi mua. Sau khi thỏa thuận, anh Trần Chí T7 đã mua của T 12 hóa đơn của 04 công ty khác nhau để xuất cho công ty V1, cụ thể:
-
- 05 (năm) hóa đơn số 1525, 1542, 1602, 1813, 1851 của công ty D2 K với chi phí 9% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn;
-
- 02 (hai) hóa đơn của Công ty Đ2 với chi phí 9,5% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn;
-
- 02 (hai) hóa đơn của Công ty C1 với chi phí 9,5% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn;
-
- 03 (ba) hóa đơn của Công ty S với chi phí 9% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn;
Tổng cộng, anh Trần Chí T7 đã mua tổng số 12 hóa đơn của T cho công ty V1 và được T gửi hóa đơn qua tin nhắn Zalo. Việc anh T7 mua 12 hóa đơn trên do anh T7 tự ý thực hiện, giám đốc công ty V1 không hề hay biết. Anh T7 đã thanh toán chuyển khoản phí mua 12 hóa đơn cho Nguyễn Thị T 04 lần từ 02 tài khoản ngân hàng M, 9880166869999 mang tên Trần Chí T7 đến tài khoản ngân hàng S1 số 0984354311 của Thìn (ngày 31/03/2023 chuyển số tiền 670.000 đồng; ngày 05/4/2023 chuyển số tiền 2.863.000 đồng; ngày 07/4/2023 chuyển số tiền 203.000 đồng; ngày 19/4/2023 chuyển số tiền 1.320.000 đồng), với tổng số tiền là 5.056.000 đồng (trong đó có 4.761.500 đồng là thanh toán phí mua 12 tờ hóa đơn nêu trên, còn lại số tiền 294.500 đồng là do anh T7 chuyển tiền cho T để mua hóa đơn cước vận chuyển nhưng T chưa bán cho anh T7). Đối với số tiền 294.500 đồng này thì T đã trả anh T7 bằng tiền mặt khi T gặp anh T7 ở TX S, TP Hà Nội. Tuy nhiên, khi mua được hóa đơn, anh T7 chưa dùng để quyết toán với công ty. Chi cục thuế thị xã S, Hà Nội xác nhận Công ty V1 chưa sử dụng những hóa đơn này để quyết toán thuế.
-
-
Công ty trách nhiệm hữu hạn E (gọi tắt là công ty E), MST: 2400866 767, địa chỉ: KCN Q, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang:
T đã bán cho chị Đỗ Thị T2 (sinh năm 1996, nơi thường trú: thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang) là nhân viên hành chính của Công ty E 03 hóa đơn giá trị gia tăng. Quá trình làm việc với cơ quan điều tra, chị T2 trình bày do công ty thường xuyên có hoạt động tiếp khách, phát sinh chi phí ăn uống nhưng không có hóa đơn nên vào khoảng tháng 3 năm 2023, thông qua mạng xã hội chị T2 biết Nguyễn Thị T có bán hóa đơn nên chị T2 đã sử dụng tài khoản Zalo “Thảo” để liên hệ Nguyễn Thị T mua trái phép 03 tờ hóa đơn GTGT sau:
-
- 01 (một) hóa đơn số 1493 ngày 29/3/2023 của Công ty D2 K;
-
- 01 (một) hóa đơn của Công ty T9;
-
- 01 (một) hóa đơn của Công ty K1.
Cả 03 (ba) hóa đơn nêu trên được chị T2 và T thống nhất phí mua là 9,5% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn. Tuy nhiên, thực tế sau đó chị T2 đã chuyển tiền cho T 03 lần, từ tài khoản ngân hàng V2 số 1013780084 của chị T2 đến tài khoản ngân hàng S1 số 0984354311 của Thìn (ngày 30/3/2023 chuyển số tiền 724.000 đồng; ngày 22/5/2023 chuyển số tiền 1.320.000 đồng; ngày 23/5/2023 chuyển số tiền 212.000 đồng). Tổng số tiền mà chị Đỗ Thị T2 đã thanh toán cho T là 2.256.000 đồng. Nguyễn Thị T đã gửi hóa đơn cho chị Đỗ Thị T2 qua tin nhắn Email. Mục đích chị T2 mua hóa đơn là để công ty quyết toán chi phí ăn uống. Lãnh đạo Công ty E không biết việc chị Đỗ Thị T2 mua hóa đơn nói trên.
-
-
Công ty trách nhiệm hữu hạn X (gọi tắt là công ty X), MST: 2300936883, địa chỉ số F đường H, phường V, TP B, tỉnh Bắc Ninh.
T đã bán cho chị Nguyễn Thị Thu H (sinh năm 2000, Nơi thường trú: Khu phố V, phường Đ, TP B, tỉnh Bắc Ninh) là kế toán Công ty X 05 hóa đơn giá trị gia tăng. Quá trình làm việc với cơ quan điều tra, chị H trình bày do trong quá trình hoạt động, công ty có phát sinh chi phí ăn uống, giám đốc công ty yêu cầu phải có hóa đơn GTGT mới được quyết toán. Thông qua mạng xã hội chị H biết Nguyễn Thị T có bán hóa đơn nên chị H đã sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn H” nhắn tin liên hệ với tài khoản Zalo của Nguyễn Thị T hỏi mua hóa đơn dịch vụ ăn uống cho công ty. Qua trao đổi, Nguyễn Thị T đã đồng ý bán và gửi qua tin nhắn Zalo cho chị H các hóa đơn sau:
-
- 02 (hai) Hóa đơn số 2010 và 2356 của Công ty D2 K;
-
- 02 (hai) Hóa đơn số 1729 và 2143 của Công ty P1;
Ngoài ra còn có 01 (một) Hóa đơn số 136 ngày 09/3/2023, giá trị tiền hàng trước thuế là 15.000.000 đồng của Công ty TNHH T11 (sau đây gọi tắt là công ty T11), MST: 2301225498, địa chỉ: KĐT T, phố Y, P T, TP T, tỉnh Bắc Ninh do anh Chu Bá D1 làm giám đốc, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ ăn uống. Đây không phải hóa đơn T bỏ tiền ra mua mà T đã yêu cầu chị Ngô Thị Minh T8 (sinh năm 1990, nơi thường trú: Khu H, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh) là kế toán công ty xuất hóa đơn này cho Công ty X. Do trong quá trình hoạt động kinh doanh công ty, Nguyễn Thị T có một vài lần đến nhà hàng của công ty để ăn uống nhưng không lấy hóa đơn nên khi thấy công ty X có nhu cầu mua hóa đơn, T đã yêu cầu chị T8 xuất hóa đơn của Công ty T11 cho Công ty TNHH X và đã được chị T8 xuất hóa đơn trên. Sau khi được chị T8 gửi hóa đơn này thì Nguyễn Thị T đã gửi cho chị Nguyễn Thị Thu H để bán lại cho chị H.
Như vậy, Nguyễn Thị T đã bán cho chị Nguyễn Thị Thu H tổng số 05 hóa đơn, trong đó bán 02 hóa đơn của Công ty D2 K và 02 hóa đơn của Công ty P1 với chi phí là 9,5% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn; bán 01 hóa đơn của Công ty T11 với chi phí là 10% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn.
Chị Nguyễn Thị Thu H đã chuyển tiền chi phí mua hóa đơn cho Nguyễn Thị T bằng hình thức chuyển khoản, từ tài khoản Ngân hàng T12 số 05466841501 mang tên Nguyễn Thị Thu H đến tài khoản ngân hàng S1 số 0984.354.311 mang tên Nguyễn Thị T 04 lần (Ngày 25/4/2023 chuyển số tiền 670.000 đồng; Ngày 09/3/2023 chuyển số tiền 1.500.000 đồng; Ngày 15/5/2023 chuyển số tiền 954.000 đồng; Ngày 29/5/2023 chuyển số tiền 1.049.750 đồng) với tổng số tiền là 4.173.750 đồng để thanh toán phí mua 01 hóa đơn của Công ty T11, 02 hóa đơn của Công ty P1 và hóa đơn số 2356 ngày 15/5/2023 của Công ty D2 K. Còn đối với hóa đơn số 2010 ngày 21/4/2023 của Công ty D2 K thì chị H đã thanh toán tiền mua hóa đơn cho Nguyễn Thị T bằng tiền mặt, số tiền là 765.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà chị H đã thanh toán cho T để mua 05 hóa đơn nói trên là 4.938.750 đồng.
-
-
Ngân hàng thương mại cổ phần X1 (gọi tắt là Ngân hàng P2), MST: 1400116233, địa chỉ: Tầng A, 23, 24 Tòa nhà MIPEC, số B T, phường N, quận Đ, TP Hà Nội.
T đã bán cho anh Lê Trung K (sinh năm 1981, nơi thường trú: tổ A, phường T, quận L, TP Hà Nội) tổng cộng 05 hóa đơn. Anh K là nhân viên Ngân hàng P2 được giao nhiệm vụ làm thủ tục quyết toán các khoản chi của Ngân hàng. Trong quá trình hoạt động, ngân hàng phát sinh chi phí ăn uống, tiếp khách nhưng không có hóa đơn để được quyết toán. Vì vậy, vào khoảng đầu tháng 4 năm 2023, anh K đã tìm mua hóa đơn trên mạng Internet và biết đến Nguyễn Thị T sử dụng tài khoản Zalo “Nguyen Thi T5” có bán hóa đơn. Sau đó, anh K sử dụng tài khoản Zalo số 0912443191 mang tên “Kien Lomo” để nhắn tin với tài khoản Zalo của T hỏi mua hóa đơn. Sau quá trình trao đổi, anh K đã mua của T 05 hóa đơn xuất cho Ngân hàng P2, gồm:
-
- 03 (ba) hóa đơn số 1620, 1738 và 15 của Công ty D2 K.
-
- 01 (một) hóa đơn số 2124 của Công ty P1.
-
- 01 (một) hóa đơn của Công ty Đ1.
Số hóa đơn này được Nguyễn Thị T gửi cho anh Lê Trung K qua email. Anh K đã thanh toán phí mua 05 hóa đơn trên cho Nguyễn Thị T 05 lần, từ 02 tài khoản ngân hàng P2 số 1077040059166, 1037040198888 mang tên Lê Trung K đến tài khoản ngân hàng S1 số 0984354311 của T (Ngày 05/4/2023 chuyển số tiền 443.000 đồng; Ngày 11/4/2023 chuyển số tiền 1.212.000 đồng; Ngày 24/4/2023 chuyển số tiền 862.000 đồng; Ngày 29/5/2023 chuyển số tiền 1.179.000 đồng; Ngày 15/6/2023 chuyển số tiền 570.000 đồng), tổng số tiền là 4.266.000 đồng.
-
Tổng cộng, Nguyễn Thị T đã bán 25 hóa đơn giá trị gia tăng (đã hoàn thiện nội dung), với chi phí từ 8,5% đến 10% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn, thu lợi số tiền là 5.274.997 đồng (chưa bao gồm số tiền 9.648.003 đồng mà Nguyễn Thị T chưa thanh toán cho Nguyễn Khánh N1).
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã T10 đã thu giữ:
-
- Thu giữ của Nguyễn Thị T: 01 (một) điện thoại di động iPhone 12 Pro Max, số máy MGD93VN/A, IMEI: 355565705260142, vỏ màu vàng, lắp 01 thẻ sim Viettel. Đây là chiếc điện thoại T sử dụng để liên lạc, trao đổi, mua bán hóa đơn.
-
- Thu giữ của Nguyễn Khánh N1: 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Pro, vỏ màu xanh, số máy MLW03VN/A, số IMEI: 350017082031980, số IMEI 2: 350017082493198 trên máy lắp 01 thẻ sim Viettel. Đây là chiếc điện thoại N1 dùng để liên lạc, trao đổi, mua bán hóa đơn.
-
- Thu giữ của Đỗ Thị T2: 01 (một) điện thoại di động iPhone X, IMEI: 353021091808823, vỏ màu đen, lắp 01 thẻ sim. Đây là chiếc điện thoại T2 dùng để liên lạc, trao đổi mua hóa đơn của T.
-
- Thu giữ của Nguyễn Thị Thu H: 01 (một) điện thoại di động iPhone 11 Pro Max, số máy MWHH2B/A, IMEI: 353910108108633, vỏ màu xanh, lắp 01 thẻ sim. Đây là chiếc điện thoại H dùng để liên lạc, trao đổi mua hóa đơn của T.
-
- Thu giữ của Trần Chí T7: 01 (một) điện thoại di động Iphone 6, số máy NG492J/A, IMEI: 356954068519303, vỏ màu vàng, không lắp thẻ sim. Đây là chiếc điện thoại T7 dùng để liên lạc, trao đổi mua hóa đơn của T.
Ngoài ra, Cơ quan cảnh sát điều tra cũng đã tiến hành khám xét nơi ở, đồ vật, tài liệu của T nhưng không thu giữ gì.
Khám xét nơi ở, đồ vật, tài liệu của Nguyễn Khánh N1, thu giữ:
-
+ 01 (một) Đơn hàng (mã SON02266) ngày 03/7/2023.
-
+ 01 (một) Phiếu bảo hành (mã phiếu WCN00234) ngày 04/7/2023.
-
+ 01 (một) Phiếu bán hàng (PO: 477688) ngày 04/7/2023.
-
+ 02 (hai) Đơn trình báo đề ngày 15/8/2023.
Trong đó: 01 đơn hàng, 01 phiếu bảo hành và 01 phiếu bán hàng thu giữ không liên quan gì đến việc N1 bán hóa đơn. Còn 02 đơn trình báo đề ngày 15/8/2023 là do N1 tự soạn thảo, tự ký vào mục người trình báo nhưng chưa gửi đi. Mục đích của N1 khi làm 02 đơn này để chụp ảnh gửi cho T để T biết sợ và trả lại tiền mua hóa đơn cho N1.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị T và Nguyễn Khánh N1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Cả hai đều biết hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng là vi phạm pháp luật tuy nhiên vì hám lợi nên vẫn thực hiện hành vi cho đến khi bị cơ quan chức năng phát giác.
Tại Cơ quan điều tra Công an thị xã T10, bị cáo T và bị cáo N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 133/CT-VKSST ngày 09/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Khánh N1 về Tội Mua bán trái phép hóa đơn theo khoản 1 Điều 203 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Thị T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng về Tội mua bán trái phép hóa đơn.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Khánh N1 từ 50 đến 70 triệu đồng về Tội mua bán trái phép hóa đơn.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T; Về vật chứng đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền Nguyễn Thị T thu lời bất chính mà có là 14.923.000đồng, trong đó bị cáo đã nộp là 5.274.000 đồng, còn lại phải nộp tiếp là 9.648.000đồng.
Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max của Nguyễn Thị T, 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro của Nguyễn Khánh N1, 01 điện thoại Iphone X của Đỗ Thị T2, 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max của Nguyễn Thị Thu H và 01 điện thoại Iphone 6 của Trần Chí T7.
Các Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T khai: Trong khoảng thời gian từ tháng 2/2023 đến tháng 7/2023, Nguyễn Thị T đã mua tổng cộng 25 hóa đơn giá trị gia tăng điện tử đã được hoàn thiện nội dung với chi phí 8,3% giá trị tiền hàng trước thuế ghi trên hóa đơn, trong đó có 17 hóa đơn của 5 công ty (gồm Công ty T9, Công ty D2 K, Công ty P1, Công ty K1 và Công ty Đ1) do Nguyễn Khánh N1 và một số người khác góp vốn, cùng 08 hóa đơn của 04 công ty khác (gồm công ty Đ2, công ty C1, công ty S, công ty T11) sau đó bán lại cho 04 công ty (là công ty V1, công ty E, công ty X, Ngân hàng P2) với số tiền thu lời bất chính là 14.923.000 đồng. Nguyễn Khánh N1 chưa thu lợi bất chính được khoản tiền nào.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai có tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị N3 đã có hành vi mua bán trái phép hóa đơn nhiều lần, mục đích là nhằm thu lợi bất chính; tổng cộng Nguyễn Thị T thu lợi bất chính số tiền là 14.923.000đồng đồng, Nguyễn Khánh N1 chưa thu lợi bất chính khoản tiền nào, bởi vì khi N1 bán trái phép 17 hóa đơn cho T với số tiền là 9.648.003đồng nhưng T chưa thanh toán cho N1.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố các bị cáo Nguyễn Thị t và Nguyễn Khánh N1 về Tội mua bán hóa đơn theo khoản 1 Điều 203 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo T và bị cáo N1 đều có năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội mà pháp luật cấm. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước và gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội.
-
[2]. Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo T và N1 đều không có.
-
[3]. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện khắc phục hậu quả; có nhân thân tốt, bị cáo T con còn nhỏ, đã nộp lại só tiền thu lời bất chính là 5.274.997 đồng, bị cáo N1 chưa có chồng con, có nhiều đóng góp hỗ trợ về vật chất cho quê hương của bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s 1 khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo T có nơi cư trú rõ ràng nên cho bị cáo T hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo Điều 65 của BLHS, cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước, cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục và phòng ngừa tội phạm; Bị cáo Nguyễn Khánh N1 nhà ở xa, hiện chưa có chồng con nên cho bị cáo hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của BLHS cũng đủ để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
-
[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo N1 không có nghề nghiệp ổn định và không có thu nhập khác, nên không áp dụng hình phạt bổ sung. Đối với bị cáo N1 hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
-
[5]. Đối với Đối với anh Trần Chí T7 và công ty V1: Anh Trần Chí T7 là người tự ý mua và tự thanh toán tiền mua 12 hoá đơn giá trị gia tăng điện tử (đã hoàn thiện nội dung) của Nguyễn Thị T. Mục đích anh T7 mua hóa đơn là để được quyết toán số tiền đã mua sắm, tiếp khách cho công ty, không được hưởng lợi gì. Tổng giá trị tiền hàng trước thuế của 12 hoá đơn là 52.669.445 đồng. Sau khi mua hóa đơn, anh T7 chưa sử dụng để quyết toán với công ty nên công ty chưa kê khai thuế. Hành vi của anh Trần Chí T7 không đủ yếu tố cấu thành tội: Trốn thuế, quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT – Công an T10 đã có văn bản gửi đến Chi cục thuế T thông báo vi phạm trên và đề nghị xem xét, xử lý đối với anh T7 và Công ty V1 theo quy định của pháp luật.
Đối với chị Đỗ Thị T2 và Công ty E: chị T2 là người trực tiếp giao dịch mua số lượng 03 hoá đơn giá trị gia tăng (đã hoàn thiện nội dung) của Nguyễn Thị T nhằm mục đích sử dụng để được Công ty E quyết toán chi phí. Chị T2 là người tự ý mua hoá đơn, không được hưởng lợi gì từ việc mua hoá đơn; Đại diện Công ty TNHH E không biết, không chỉ đạo chị T2 mua hoá đơn; tổng giá trị tiền hàng trước thuế của 03 hoá đơn là 20.755.000 đồng nên hành vi của chị T2 không đủ yếu tố cấu thành tội: Trốn thuế, quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cơ quan CSĐT – Công an T10 đã có văn bản gửi đến Cục thuế tỉnh B thông báo vi phạm trên và đề nghị xem xét, xử lý đối với chị T2 và Công ty E theo quy định của pháp luật.
Đối với chị Nguyễn Thị Thu H và Công ty X: chị H là người trực tiếp giao dịch mua số lượng 05 hoá đơn giá trị gia tăng (đã hoàn thiện nội dung) của Nguyễn Thị T nhằm mục đích sử dụng để được Công ty X quyết toán chi phí. Chị H là người tự ý mua hoá đơn, không được hưởng lợi gì từ việc mua hoá đơn; tổng giá trị tiền hàng trước thuế của 05 hoá đơn là 51.200.000 đồng nên hành vi của chị Nguyễn Thị Thu H không đủ yếu tố cấu thành tội: Trốn thuế, quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cơ quan CSĐT – Công an T10 đã có văn bản gửi đến Chi cục thuế T13 thông báo vi phạm trên và đề nghị xem xét, xử lý đối với chị Nguyễn Thị Thu H và Công ty X theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Lê Trung K và Ngân hàng P2: anh Lê Trung K là người trực tiếp giao dịch mua số lượng 05 hoá đơn giá trị gia tăng (đã hoàn thiện nội dung) của Nguyễn Thị T nhằm mục đích sử dụng để được Ngân hàng P2 quyết toán chi phí. Anh Lê Trung K là người tự ý mua hoá đơn, không được hưởng lợi gì từ việc mua hoá đơn; tổng giá trị tiền hàng trước thuế của 05 hoá đơn là 50.176.000 đồng nên hành vi của anh Lê Trung K không đủ yếu tố cấu thành tội: Trốn thuế, quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cơ quan CSĐT – Công an T10 đã có văn bản gửi đến Cục T14 thông báo vi phạm trên và đề nghị xem xét, xử lý đối với anh Lê Trung K và Ngân hàng P2 theo quy định của pháp luật.
Đối với chị Nguyễn Kim T4, chị Lê Thị Kim A, chị Nguyễn Thị P, ông Ngô Văn T6, chị Ngô Thị L1: những người này không biết việc Nguyễn Khánh N1 bán trái phép 17 hóa đơn cho Nguyễn Thị T. Vì vậy, Cơ quan CSĐT – Công an T10 không đưa ra hình thức xử lý đối với chị Nguyễn Kim T4, chị Lê Thị Kim A, chị Nguyễn Thị P, ông Ngô Văn T6, chị Ngô Thị L1.
Đối với Công ty T9, Công ty D2 K, Công ty P1, Công ty K1 và Công ty Đ1: Cơ quan CSĐT – Công an T10 đã có văn bản gửi đến Chi cục thuế quận B, Chi cục thuế quận Đ thông báo về việc 05 công ty trên bán trái phép hóa đơn cho công ty V1, Công ty E, Công ty X, Ngân hàng P2 và xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Công ty Đ2, Công ty C1, công ty S, Công ty T11, Cơ quan CSĐT – Công an T10 đã có văn bản gửi đến Chi cục thuế quận C, Chi cục thuế quận H, Chi cục thuế huyện T, Chi cục thuế T15 thông báo về việc 04 công ty này xuất khống hóa đơn cho Công ty V1, Công ty TNHH X và xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với chị Nguyễn Thị H1, chị Ngô Thị Minh T8: chị Nguyễn Thị H1 đã có hành vi xuất khống 03 hóa đơn của công ty S cho công ty V1 nhưng không hưởng lợi nhuận, chị Ngô Thị Minh T8 đã có hành vi xuất khống 01 hóa đơn của Công ty T11 cho Công ty X nhưng không hưởng lợi nhuận. Vì vậy, Cơ quan CSĐT – Công an T10 không đưa ra hình thức xử lý đối với chị Nguyễn Thị H1 và chị Ngô Thị Minh T8.
Đối với người phụ nữ tên L2: Nguyễn Thị T khai nhận mua số lượng 04 hoá đơn giá trị gia tăng (đã hoàn thiện nội dung) của công ty Đ2 và công ty C1 của người phụ nữ tên L2 (T không biết thông tin, địa chỉ); việc thanh toán tiền mua hoá đơn bằng hình thức trả tiền mặt. Vì vậy, Cơ quan CSĐT – Công an T10 không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
-
[6]. Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 5 chiếc điện thoại, là điện thoại bị cáo T, N1 sử dụng giao dịch với nhau vào việc mua bán hóa đơn, điện thoại của anh T7, chị T2 cũng sử dụng vào việc liên hệ mua bán hóa đơn cần tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước.
-
[5]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
-
[6]. Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo về mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.
-
[7]. Đối với số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Thị T là 14.923.000 đồng; cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, T đã nộp 5.274.000đồng tại Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã S, còn lại 9.648.000đồng bị cáo phải nộp tiếp.
-
[8]. Các Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 203; Các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt Nguyễn Thị T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về Tội mua bán trái phép hóa đơn.
Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 203; Các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt Nguyễn Khánh N1 60.000.000đồng (Sáu mươi) triệu đồng về Tội mua bán trái phép hóa đơn.
-
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp ngân sách Nhà nước số tiền là 14.923.000đồng, được trừ vào số tiền bị cáo đã nộp là 5.274.997đồng, theo biên lai số 0000794 ngày 05/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã S, Hà Nội, bị cáo còn phải nộp tiếp số tiền là 9.648.003đồng.
Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, số máy ML W03VN/A, IMEI: 355565705260142; 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro, vỏ màu xanh, số máy ML W03VN/A, số IMEI 350017082031980, số IMEI 2: 350017082493198; 01 điện thoại Iphone X vỏ màu đen; 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, số máy MWHH2B/A, IMEI 353910108108633, vỏ màu xanh và 01 điện thoại Iphone 6, số máy NG492J/A, IMEI 356954068519303, vỏ màu vàng.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/11/2023 giữa Công an thị xã T10 và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bên được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án thì bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi, theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N4 quy định đối với số tiền chậm thi hành án.
-
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Khánh N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Tú |
Bản án số 132/2022/HS-ST ngày 06/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI về tội mua bán trái phép hóa đơn (criminal case)
- Số bản án: 132/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Mua bán trái phép hóa đơn (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T và N mua bán trái phép hóa đơn
