Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 132/2023/HNGĐ-ST

Ngày 06-11-2023

V/v tranh chấp ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Oanh và ông Huỳnh Khắc Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 289/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2023/QĐXX-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu phố Đ, Phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên toà.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trần Kh, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khu phố Đ, Phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu H trình bày: Nguyên đơn và bị đơn anh Nguyễn Trần Kh tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 31/7/2018 tại Ủy ban nhân dân Phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn mặc dù nhiều lần chúng tôi cố gắng tìm cách giải quyết nhưng không được. Hiện vợ chồng đã sống ly thân một năm nay, không ai còn quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được giải quyết ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Trần Kh.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Huỳnh Gia H1, sinh ngày 03/5/2019 (hiện đang ở với nguyên đơn). Ly hôn, nguyên đơn xin nhận nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Trần Kh vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu H giữ nguyên ý kiến trình bày. Bị đơn anh Nguyễn Trần Kh vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu H được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Trần Kh. Về con chung: Giao một con chung tên Nguyễn Huỳnh Gia H1, sinh ngày 03/5/2019 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn anh Nguyễn Trần Kh không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu H xin ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Trần Kh là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

[1.2] Về giải quyết vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân thành phố T đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn anh Nguyễn Trần Kh để hòa giải và xét xử nhưng bị đơn vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu H và bị đơn anh Nguyễn Trần Kh tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2018, được Uỷ ban nhân dân Phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 34, ngày 31 tháng 7 năm 2018 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, phát sinh những mâu thuẫn như nguyên đơn trình bày. Xét thấy, mâu thuẫn giữa các đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu H được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Trần Kh.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Huỳnh Gia H1, sinh ngày 03/5/2019. Ly hôn, nguyên đơn xin nhận nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Hiện con chung đang ở với nguyên đơn, còn nhỏ nên để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử giao con chung tên Nguyễn Huỳnh Gia H1, sinh ngày 03/5/2019 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn anh Nguyễn Trần Kh không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu H được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Trần Kh.

Về con chung: Giao một con chung tên Nguyễn Huỳnh Gia H1, sinh ngày 03/5/2019 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn anh Nguyễn Trần Kh không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Về án phí HNGĐ-ST: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0009870 ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh P;
  • - VKSND TP. T;
  • - Chi cục THADS TP. T;
  • - UBND Phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2023/HNGĐ-ST ngày 06/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 132/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Huỳnh Thị Thu Hồng và bị đơn Nguyễn Trần Khánh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger