Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 132/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-8-2024

V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Diệu Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lê Thành Thật.

- Bà Nguyễn Thị Hân.

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2024/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 422/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thu T, sinh năm: 1990. (Có đơn xin vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số B khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • Chỗ ở hiện nay: Số B khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm: 1982. (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số B khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Bùi Thị Thu T trình bày: Bà và ông N thông qua mai mối và đi đến hôn nhân vào năm 2010, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc tuy nhiên đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, khác nhau về quan niệm trong cuộc sống, ông N không chăm lo gia đình, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông N.

- Về con chung: có 01 con chung tên Lê Thị Như Ý, sinh ngày 29/01/2012. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, hiện nay bà đang làm tạp vụ ở Công ty A lương 5.000.000 đồng/tháng đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông N cấp dưỡng.

  • Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: không có.
  • Bị đơn ông Lê Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông N vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông N đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Bà Bùi Thị Thu T yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn N. Ông N có nơi cư trú tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn ông Lê Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông N.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông N xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng từ năm 2018 do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay, bà T xác định không còn tình cảm với ông N nên bà vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, ông N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông N không tham gia và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do bà T cung cấp. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do bà T cung cấp để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà T xác định không thể tiếp tục chung sống cùng với ông N, bà T và ông N không còn chung sống với nhau trong thời gian dài, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: có 01 con chung tên Lê Thị Như Ý, sinh ngày 29/01/2012. Từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau đến nay thì bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ý. Trong thời gian cháu Ý sống với mẹ đã ổn định về điều kiện sinh hoạt, môi trường học tập, tâm tư, tình cảm của cháu Ý gắn liền với mẹ. Mặt khác, tại biên bản ghi ý kiến con chung ngày 09/5/2024 cháu Ý có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Ý cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

[5] Về cấp dưỡng nuôi con chung: bà T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà T trình bày không có nên không đề cập giải quyết.

[7] Về án phí: bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 235, Điều 271, Khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
  • Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thu T.
  • Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thu T được ly hôn ông Lê Văn N.
  • Về con chung: Bà Bùi Thị Thu T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Lê Thị Như Ý, sinh ngày 29/01/2012.

Bà Bùi Thị Thu T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Lê Văn N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Ông Lê Văn N không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông N thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  • Về cấp dưỡng: Không xem xét, giải quyết.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  • Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Bùi Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001919 ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà T đã nộp xong.

Nguyên đơn bà Bùi Thị Thu T, bị đơn ông Lê Văn N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TPLX;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đặng Thị Diệu Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 132/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger