Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ NINH

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 132/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05-9-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thanh Liêm

Bà Nguyễn Thị Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lại Thị Ty N, sinh năm 1988; địa chỉ: Khối phố Phương Hòa Đông, phường H, thành phố T, tỉnh Q. Có mặt.

Bị đơn: Anh Lê Duy Tr, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Trung Sơn, xã T, huyện N, tỉnh Q. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lại Thị Ty N trình bày: Chị N với Anh Tr tự nguyện tìm hiểu và xây dựng gia đình, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam L, huyện N, tỉnh Q vào năm 2010. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cãi vã kéo dài, Anh Tr có hành vi bạo lực. Chị N thấy tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Anh Tr.

Về nuôi con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Lê Đăng K, sinh ngày 09-01-2011. Khi ly hôn, Chị N có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K đến tuổi thành niên và không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lê Duy Tr nhưng Anh Tr không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Anh Tr không thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Phú Ninh phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là không đúng theo quy định pháp luật.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lại Thị Ty N.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, giao cháu Lê Đăng K, sinh ngày 09/01/2011 cho chị Ty N chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị N không yêu cầu Anh Tr cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Lại Thị Ty N khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Lê Duy Tr có nơi cư trú tại thôn Trung Sơn, xã Tam L, huyện N, tỉnh Q nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Q theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng bị đơn Lê Duy Tr vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị N và Anh Tr kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Lãnh, huyện N, tỉnh Q là hôn nhân hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, Anh Tr còn có hành vi đánh đập vợ. Chị N thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho Chị N được ly hôn với Anh Tr. Trong quá trình giải quyết vụ án, Anh Tr không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiên, không tham gia phiên tòa nên không có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng. Hiện nay, hai vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn; hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lại Thị Ty N, cho Chị N được ly hôn với anh Lê Duy Tr.

- Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Chị N trình bày Chị N và Anh Tr có một con chung là Lê Đăng K, sinh ngày 09-01-2011. Chị N có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung đến tuổi thành niên. Chị N không yêu cầu Anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy; Cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của Luật hôn nhân gia đình. Anh Tr không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến về con chung. Hiện nay, cháu K đang ở với Chị N và được Chị N chăm sóc và phát triển bình thường, cháu K cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu Khôi cho Chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp với quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu Anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Đương sự khai không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Lại Thị Ty N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của nguyên đơn chị Lại Thị Ty N.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị Ty N được ly hôn với anh Lê Duy Tr.

- Về con chung: Giao cháu Lê Đăng K, sinh ngày 09-01-2011 cho chị Lại Thị Ty N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi).

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lại Thị Ty N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có và đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Lại Thị Ty N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Chị N đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017912 ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Ninh. Chị N đã nộp xong án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tam Lãnh;
  • - VKSND huyện Phú Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đinh Văn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 132/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Na Truyền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger