Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 132/2024/HS-ST

Ngày 05/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng – Hưu trí;

Nguyễn Thị Vượng – Giáo viên nghỉ hưu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Thắng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2024/QÐST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 28 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2024/QÐST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Ngô Diêm Đ, sinh ngày 03/10/2007; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn H, sinh năm 1982 và bà Diêm Thị H1, sinh năm 1981; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
  2. Họ và tên: Hoàng Mạnh H2, sinh ngày 02/01/2007; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H3, sinh năm 1976 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1982; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
  3. Họ và tên: Vũ Nhất A, sinh ngày 12/7/2005; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H4, sinh năm 1973 và bà Lê Thị L, sinh năm 1975; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
  4. Họ và tên: Vũ Hải N, sinh ngày 27/4/2007; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C, sinh năm 1983 và bà Hoàng Thị S, sinh năm 1983; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
  5. Họ và tên: Nguyễn Tuấn S1, sinh ngày 25/6/2007; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S2, sinh năm 1976 và bà Hà Thị Đ1, sinh năm 1975 (đã chết); vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
  6. Họ và tên: Vũ Đức P, sinh ngày 19/5/2006; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Tổ dân phố H, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức N1, sinh năm 1981 và bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1983; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện cho bị cáo Ngô Diêm Đ: Ông Ngô Văn H, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người đại diện cho bị cáo Hoàng Mạnh H2: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người đại diện cho bị cáo Vũ Hải N: Bà Hoàng Thị S, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Tuấn S1: Ông Nguyễn Văn S2, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người đại diện cho bị cáo Vũ Đức P: Bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Những người đại diện đều có mặt tại phiên tòa)

· Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lê Doãn H5, sinh năm 2008; người đại diện: Bà Vũ Thị H6, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
  2. Anh Phạm Hải Đ2, sinh năm 2007; người đại diện: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
  3. Anh Đào Văn Đ3, sinh năm 2008; người đại diện: Bà Võ Thị B1; địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
  4. Anh Đoàn Quốc H7, sinh năm 2008; người đại diện: Bà Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (anh H7 có mặt, bà T1 vắng mặt);
  5. Anh Phạm Hoàng Tuấn A1, sinh năm 2007; người đại diện: Ông Phạm Văn H8, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
  6. Anh Nguyễn Trọng T2, sinh năm 2007; người đại diện: Bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
  7. Anh Nguyễn Đắc C1, sinh năm 2007; người đại diện: Ông Nguyễn Đắc T3, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  8. Anh Ngô Đắc T4, sinh năm 2007; người đại diện: Ông Ngô Sách T5, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (anh T4 có mặt, ông T5 vắng mặt);
  9. Anh Nguyễn Văn H9, sinh năm 2007; người đại diện: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
  10. Ông Vũ Văn H4, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

- Người bào chữa:

  1. Người bào chữa cho bị cáo Ngô Diêm Đ:

    Ông Dương Ngọc T6 – Luật sư; nơi làm việc: Văn phòng Luật sư Dương Ngọc T6 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số F, đường H, phường L, thành phố B (có mặt).

    Giáp Thị H10 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B (có mặt).

  2. Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Mạnh H2:

    Ông Nguyễn Mạnh H11 – Luật sư; nơi làm việc: Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số E, đường L, phường T, thành phố B (có mặt).

    Giáp Thị H10 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B (có mặt).

  3. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn S1:

    Ông Nguyễn Văn Q – Luật sư; nơi làm việc: Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B địa chỉ: Số B, đường T, phường T, thành phố B (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

    Ông Hoàng Trọng N2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B (có mặt).

  4. Người bào chữa cho bị cáo Vũ Đức P:

    Ông Nguyễn Văn N3 – Luật sư; nơi làm việc: Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B địa chỉ: Số A, đường C, phường H, thành phố B (có mặt).

    Nguyễn Thị Như Q1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B (có mặt).

  5. Người bào chữa cho bị cáo Vũ Hải N:

    Ông Vũ Bá C2 – Luật sư; nơi làm việc: Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số E, đường L, phường T, thành phố B (có mặt).

    Nguyễn Thị Như Q1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B (có mặt).

- Đại diện cơ quan, đoàn thể tham gia phiên tòa:

  1. Đại diện Trường Cao đẳng C3 (vắng mặt);
  2. Đại diện Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
  3. Đại diện Đoàn Thanh niên xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi trưa ngày 18/11/2023, Giáp Hoàng N4, sinh ngày 02/11/2007, trú tại thôn L, xã L, huyện Y; Nguyễn Tuấn H12, sinh ngày 02/7/2007, trú tại thôn D, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Đắc C1 đến quán I ở thị trấn T, huyện Y chơi game. Thời điểm này nhóm của Lê Doãn H5, Phạm Hải Đ2; Nguyễn Trọng T2Đào Văn Đ3 cũng đang chơi game tại quán. Do trước đó giữa N4 và H5 xảy ra mâu thuẫn với nhau nên khi thấy H5 đang chơi ở quán thì N4 bảo C1 gọi H5 ra ngoài để đánh cảnh cáo. Sau đó giữa nhóm của N4 và nhóm của H5 xảy ra xô sát đánh nhau thì mọi người can ngăn và dọa báo Công an nên hai nhóm dừng lại không đánh nhau nữa.

Buổi tối cùng ngày, Nguyễn Đắc C1 nhắn tin qua messenger cho Lê Doãn H5 thách thức nhau. Hai người hẹn 20 giờ ngày 19/11/2023 đi đến cầu Đ, thành phố B để đánh nhau giải quyết mâu thuẫn.

Ngô Diêm Đ (là bạn Lê Doãn H5) có mâu thuẫn trên mạng xã hội với Nguyễn Văn H9. Đ và H9 nhắn tin qua messenger thách thức nhau và hẹn 21 giờ ngày 19/11/2023 đi lên cầu Đ để đánh nhau giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, Đ nhắn tin cho Lê Doãn H5 rủ chuẩn bị hung khí để đi đánh nhau với H9. Do trước đó Nguyễn Đắc C1 đã hẹn với Lê Doãn H5 đi đến cầu Đ để đánh nhau nên H5 nói cho Đ biết sẽ đánh nhau với C1 trước và đánh nhau với H9 sau. H5 và Đ và hẹn gặp nhau ở khu đường mới xã T, huyện L rồi cùng đi đánh nhau với nhóm của C1 và nhóm của H9.

Sau khi thống nhất xong, Ngô Diêm Đ nhắn tin cho Hoàng Mạnh H2Đoàn Quốc H7 rủ đi đánh nhau, hẹn gặp ở quán nước đối diện Trại tạm giam Công an tỉnh B và nhờ rủ thêm người đi đánh nhau thì H2H7 đồng ý. H7 nhắn tin rủ Phạm Hoàng Anh T7 hẹn gặp tại quán nước đối diện Trại tạm giam Công an tỉnh B để đi đánh nhau.

Buổi trưa ngày 19/11/2023, Hoàng Mạnh H2 gặp Nguyễn Tuấn S1Vũ Đức P ngồi uống nước tại thị trấn V. H2 rủ S1P đến tối đi xuống thành phố B đánh nhau thì S1 và P đồng ý.

Khoảng 13 giờ cùng ngày, Lê Doãn H5 gặp và rủ Nguyễn Trọng T2, Phạm Hải Đ2, Đào Văn Đ3 đến tối đi đánh nhau với nhóm của Nguyễn Đắc C1 thì tất cả đồng ý. H5 bảo T2 mang theo kiếm và đinh ba để sử dụng đánh nhau. Khoảng 19 giờ cùng ngày, H5 điều khiển xe mô tô BKS 98G1-167.55 đến đón Đ2, T2Đ3 đi đánh nhau. T2 đưa cho Đ3 01 thanh đinh ba (dài 167,8 cm, một đầu hàn gắn 03 thanh kim loại có đầu nhọn) và 01 thanh kiếm (dài 87,5cm, chuôi gỗ, lưỡi kiếm dài 60,7cm để trong vỏ gỗ màu đen). T2 điều khiển xe mô tô Vission không có biển số chở Đ3 còn Đ2 điều khiển xe mô tô BKS 98G1-167.55 chở H5 đi đến xã T, huyện L đợi nhóm Đ2 đến. H5 nhắn tin thông báo cho Đ2 đã đến điểm hẹn và có mang theo hung khí.

Đối với Đoàn Quốc H7 điều khiển xe mô tô BKS 98B2-704.10 chở Phạm Hoàng Anh T7 còn Ngô Diêm Đ điều khiển xe mô tô BKS 98M1-263.90 đi đến quán nước đối diện Trại tạm giam Công an tỉnh B để chờ nhóm từ thị trấn V, huyện L đến để cùng đi đánh nhau.

Đối với Vũ Đức PNguyễn Tuấn S1 đi xe mô tô Wave không BKS đến đón Hoàng Mạnh H2 đi đánh nhau như đã hẹn. H2 bảo P chở S1H2 đi ra khu bãi rác gần khu R, T vỏ chai bia làm hung khí. Trên đường đi, H2 gặp bạn là Vũ Hải N nên rủ đi đánh nhau thì N đồng ý tham gia. H2 bảo N đứng đợi rồi đi ra khu bãi rác. Trên đường đi, H2 gặp bạn là Vũ Nhất A điều khiển xe mô tô BKS 98M1-331.33 nên rủ đi đến thành phố B đánh nhau thì Nhất A đồng ý. H2 bảo Nhất A đèo S1 quay lại đón N. Sau đó, P chở H2 ra khu bãi rác nhặt vỏ chai bia. Nhất AS1 đi đón N rồi cùng nhau đi đến bãi rác gần khu R nhặt vỏ chai bia. Cả nhóm nhặt khoảng 30 vỏ chai bia Sài G1 đựng trong 01 thùng nhựa. H2 ôm thùng nhựa đựng vỏ chai bia ngồi sau xe do P điều khiển; NS1 mỗi người cầm 2 vỏ chai bia ngồi sau xe do Nhất A điều khiển. Năm người cùng nhau đi trên 2 xe máy đến khu vực ngã tư vòng xuyến gần cây xăng K, thành phố B thì gặp nhóm của Ngô Diêm Đ đi ra. Sau khi gặp nhau, N chuyển sang xe của Đ ngồi rồi cả nhóm đi ra đường mới thuộc xã T, huyện L gặp nhóm của Lê Doãn H5. Tại đây, Đ3 đưa chiếc đinh ba cho Đ sau đó Đ đưa cho N cầm; Đ3 đưa thanh kiếm đưa cho H7 sau đó H7 đưa cho T7 cầm. H2 chia vỏ chai bia cho mọi người cầm. Cả nhóm gồm 12 người đi 6 xe máy mang theo hung khí cùng xuất phát đi đến cầu Đ, thành phố B để đánh nhau.

Khi đến cầu Đ, nhóm của Lê Doãn H5 đỗ xe ở rìa đường đợi nhóm của Nguyễn Đắc C1 đến để đánh nhau. Khoảng 15 phút sau, C1 điện thoại cho H5 hỏi thì H5 nói đã đến để đánh nhau. Khi nhóm của H5 đang chờ nhóm của C1 đến để đánh nhau thì bị tổ công tác Công an thành phố B tuần tra phát hiện. Nhóm của H5 điều khiển xe bỏ chạy. Tổ công tác đã kiểm soát được các đối tượng và thu giữ xe mô tô BKS 98B2-701.10; xe mô tô Honda wave không BKS; 01 thanh kiếm và 01 thanh đinh ba.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ xe mô tô BKS 98B2-704.10 của Đoàn Q2; xe mô tô BKS 98M1-263.90 của Ngô Diêm Đ; xe mô tô BKS 98G1-172.51 của Nguyễn Trọng T2; xe mô tô BKS 98M1-337.33 của Vũ Nhất A; xe mô tô BKS 98G1-167.55 của Lê Doãn H5; 04 vỏ chai bia SAIGON và nhiều mảnh thuỷ tinh dạng chai bia bị vỡ, 01 lồng nhựa; 07 chiếc điện thoại di động các loại.

Tiến hành kiểm tra điện thoại di động Iphone 12 pro max của Ngô Diêm Đ phát hiện các tin nhắn mesenger với tài khoản “Hung Le” của Lê Doãn H5 rủ mang theo hung khí đi đánh nhau. Kiểm tra các điện thoại khác không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại Bản Cáo trạng số: 82/CT-VKS ngày 03/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo Ngô Diêm Đ, Hoàng Mạnh H2, Vũ Nhất A, Vũ Hải N, Nguyễn Tuấn S1Vũ Đức P về tội: “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo Ngô Diêm Đ, Hoàng Mạnh H2, Vũ Nhất A, Vũ Hải N, Nguyễn Tuấn S1Vũ Đức P đều khai nhận hành vi như cáo trạng nêu. Ngày 18/11/2023, Lê Doãn H5Nguyễn Đắc C1 nhắn tin thách thức nhau và hẹn đến buổi tối ngày 19/11/2023 đến cầu Đ, thành phố B để đánh nhau giải quyết mâu thuẫn. Ngày 19/11/2023, Ngô Diêm Đ nhắn tin cho Lê Doãn H5 rủ lên cầu Đ đánh nhau với Nguyễn Văn H9.

Sau khi nói chuyện, H5Đ thống nhất cùng đi đánh nhau với nhóm của C1 và nhóm của H9. H5 rủ thêm Phạm Hải Đ2, Nguyễn Trọng T2, Đào Văn Đ3 chuẩn bị hung khí đi đánh nhau. Đ2 rủ Đoàn Quốc H7, Hoàng Mạnh H2 đi đánh nhau. Sau đó, H7 rủ thêm Phạm Hoàng Anh T7 còn H2 rủ thêm Vũ Nhất A, Vũ Hải N, Nguyễn Tuấn S1, Vũ Đức P cùng chuẩn bị hung khí đi đánh nhau. Buổi tối cùng ngày, nhóm của Đ2 gồm 12 người đi trên 06 xe máy mang theo 01 thanh kiếm, 01 cây đinh ba và vỏ chai bia đều là những hung khí nguy hiểm đi đến cầu Đ, thành phố B để đánh nhau. Khi nhóm của Đ2 tập trung tại ngã tư đường V giao với đường đê thôn N, xã T, thành phố B chờ nhóm của C1 đến đánh nhau thì bị Công an thành phố B bắt giữ.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các anh Lê Doãn H5, Phạm Hải Đ2, Nguyễn Trọng T2, Đào Văn Đ3, Đoàn Quốc H7Phạm Hoàng A1 khai nhận: Ngày 19/11/2023 các anh có tham gia tập trung cùng các bị cáo để đánh nhau với nhóm khác. Nhưng các anh chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đã bị Công an thành phố B đã xử phạt vi phạm hành chính. Nay, các anh không có ý kiến gì.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về điều luật và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt:

Bị cáo Ngô Diêm Đ từ 06 tháng đến 08 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND cấp xã nơi cư trú giám sát giáo dục.

Bị cáo Vũ Hải N từ 05 tháng đến 07 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 14 tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND cấp xã nơi cư trú giám sát giáo dục.

Bị cáo Nguyễn Tuấn S1 từ 05 tháng đến 07 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 14 tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND cấp xã nơi cư trú giám sát giáo dục.

Bị cáo Vũ Đức P từ 05 tháng đến 07 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 14 tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND cấp xã nơi cư trú giám sát giáo dục.

Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Nhất A từ 06 tháng đến 08 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND cấp xã nơi cư trú giám sát giáo dục.

Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Hoàng Mạnh H2 từ 06 tháng đến 08 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND cấp xã nơi cư trú giám sát giáo dục.

2. Về vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kim loại dài 167,8 cm một đầu hàn gắn 03 thanh kim loại có đầu nhọn; 01 thanh kiếm dài 87,5cm có chuôi gỗ dài 25cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 60,7cm để trong vỏ kiếm gỗ màu đen; 04 vỏ chai bia S và nhiều mảnh thuỷ tinh bị vỡ; 01 lồng nhựa màu đen;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Các bị cáo, đại diện của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

Người bào chữa tham gia bào chữa cho các bị cáo:

- Người bào chữa cho bị cáo Ngô Diêm Đ:

Ông Dương Ngọc T6: Hành vi của các bị cáo là đồng phạm giản đơn, bị cáo có lý lịch tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

Giáp Thị H10: Bị cáo chưa thành niên, hạn chế nhận thực pháp luật, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có lý lịch tốt, đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo 06 tháng cải tạo không giam giữ.

Ý kiến đối đáp của Kiểm sát viên: Tình hình tội phạm của người chưa thành niên có chiều hướng gia tăng, manh động. Cần thiết giáo dục các bị cáo, phòng ngừa chung. Nên ý kiến của người bào chữa phạt bị cáo hình thức cải tạo không giam giữ, quan điểm của kiểm sát viên không nhất trí.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Mạnh H2:

Ông Nguyễn Mạnh H11 và bà Giáp Thị H10 thống nhất ý kiến: Nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên. Bị cáo có ông nội là ông Hoàng Thế K có công lao với nhà nước, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo 06 tháng cải tạo không giam giữ.

Ý kiến Kiểm sát viên: Nhất trí đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, tình hình tội phạm của người chưa thành niên có chiều hướng gia tăng, manh động. Cần thiết giáo dục các bị cáo, phòng ngừa chung. Nên ý kiến của người bào chữa phạt bị cáo hình thức cải tạo không giam giữ, quan điểm của kiểm sát viên không nhất trí. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn S1 là Ông Hoàng Trọng N2: Nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo 05 tháng cải tạo không giam giữ.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Như đã phát biểu quan điểm về hình phạt cải tạo không giam giữ nêu trên. Nên ý kiến của người bào chữa phạt bị cáo hình thức cải tạo không giam giữ, quan điểm của kiểm sát viên không nhất trí. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Đức P:

Ông Nguyễn Văn N3: Nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo 05 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

Nguyễn Thị Như Q1: Đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo từ 3 tháng đến 05 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Hải N là ông Vũ Bá C2 và bà Nguyễn Thị Như Q1 thống nhất quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo từ 03 tháng đến 05 tháng tù, cho hưởng án treo.

Các bị cáo và những người đại diện không bổ sung ý kiến gì.

Ngoài ra, không có ý kiến tranh luận nào khác.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Căn cứ các chứng cứ tài liệu được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện và người bào chữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện nhưng đã có lời khai, vắng mặt đại diện Trường Cao đẳng C3, đại diện Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện L, tỉnh Bắc Giang, đại diện Đoàn Thanh niên xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được triệu tập hợp lệ, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo Điều 292, Điều 420 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Về tội danh:

Sau khi xem xét lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Ngày 18/11/2023, Lê Doãn H5Nguyễn Đắc C1 nhắn tin thách thức nhau và hẹn đến buổi tối ngày 19/11/2023 đến cầu Đ, thành phố B để đánh nhau giải quyết mâu thuẫn. Ngày 19/11/2023, Ngô Diêm Đ nhắn tin cho Lê Doãn H5 rủ lên cầu Đ đánh nhau với Nguyễn Văn H9. Sau khi nói chuyện, H5Đ thống nhất cùng đi đánh nhau với nhóm của C1 và nhóm của H9. H5 rủ thêm Phạm Hải Đ2, Nguyễn Trọng T2, Đào Văn Đ3 chuẩn bị hung khí đi đánh nhau. Đ2 rủ Đoàn Quốc H7, Hoàng Mạnh H2 đi đánh nhau. Sau đó, H7 rủ thêm Phạm Hoàng Anh T7 còn H2 rủ thêm Vũ Nhất A, Vũ Hải N, Nguyễn Tuấn S1, Vũ Đức P cùng chuẩn bị hung khí.

Buổi tối cùng ngày, nhóm của Đ2 gồm 12 người đi trên 06 xe máy mang theo 01 thanh kiếm, 01 cây đinh ba và vỏ chai bia đều là những hung khí nguy hiểm đi đến cầu Đ, thành phố B để đánh nhau. Khi nhóm của Đ2 tập trung tại ngã tư đường V giao với đường đê thôn N, xã T, thành phố B chờ nhóm của C1 đến đánh nhau thì bị Công an thành phố B phát hiện ngăn chặn, thu giữ vật chứng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có khả năng xâm phạm sức khỏe, tính mạng của người khác, được pháp luật bảo vệ.

Các bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Ngô Diêm Đ, Hoàng Mạnh H2, Vũ Nhất A, Vũ Hải N, Nguyễn Tuấn S1Vũ Đức P phạm tội: “Cố ý gây thương tích" theo khoản 6 Điều 134 của Bộ luật hình sự, quy định: “6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Do đó, Cáo trạng số: 82/CT-VKS ngày 03/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố đối với các bị cáo Ngô Diêm Đ, Hoàng Mạnh H2, Vũ Nhất A, Vũ Hải N, Nguyễn Tuấn S1Vũ Đức P là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có đồng phạm, nhưng tính chất giản đơn. Các bị cáo có vai trò khác nhau, nhưng không đáng kể, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như nhau.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, mức hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét các tình tiết như sau:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ để áp dụng cho các bị cáo theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Mạnh H2 có ông nội là ông Hoàng Thế K được tặng thưởng huân chương của nhà nước. Đây là tình tiết giảm nhẹ để áp dụng cho các bị cáo theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên không cần bắt các bị cáo phải cách ly xã hội, mà xử phạt tù, cho hưởng án treo. Giao các bị cáo cho UBND cấp xã nơi từng bị cáo cư trú giám sát giáo dục bị cáo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Khi phạm tội, các bị cáo Ngô Diêm Đ, Hoàng Mạnh H2, Vũ Hải N, Nguyễn Tuấn S1Vũ Đức P đều chưa thành niên, nên áp dụng Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự để cân nhắc khi lượng hình.

[6]. Về xử lý các đối tượng liên quan:

6.1. Đối với Lê Doãn H5, Phạm Hải Đ2, Nguyễn Trọng T2, Đào Văn Đ3, Đoàn Quốc H7, Phạm Hoàng Anh T7 có tham gia chuẩn bị hung khí đi đánh nhau nhưng các đối tượng nêu trên đều dưới 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi cố ý gây thương tích theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do vậy, Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

6.2. Đối với Nguyễn Đắc C1 hẹn Lê Doãn H5 đánh nhau. Nguyễn Văn H9 hẹn Ngô Diêm Đ đi đánh nhau nhưng C1H9 đều không chuẩn bị hung khí và không đi đánh nhau nên Cơ quan điều tra không xử lý. Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

6.3. Đối với hành vi xô sát đánh nhau giữa nhóm của Lê Doãn H5 và nhóm của Giáp Hoàng N4 tại thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã chuyển các tài liệu liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Y giải quyết theo thẩm quyền. Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

[7]. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:

7.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kim loại dài 167,8 cm một đầu hàn gắn 03 thanh kim loại có đầu nhọn; 01 thanh kiếm dài 87,5cm có chuôi gỗ dài 25cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 60,7cm để trong vỏ kiếm gỗ màu đen; 04 vỏ chai bia S và nhiều mảnh thuỷ tinh bị vỡ; 01 lồng nhựa màu đen;

7.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max.

[8]. Đối với tài sản thu giữ:

8.1. Chiếc xe mô tô BKS 98M1-263.90 thu giữ của Ngô Diêm Đ là của anh Ngô Sách T5, sinh năm 1982, trú tại thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; xe mô tô BKS 98B2-704.10 thu giữ của Đoàn Quốc Huy là của chị Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1977, trú tại thôn H, xã H, huyện Y; xe mô tô BKS 98G1-172.51 thu giữ của Nguyễn Trọng T2 là của bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1973, trú tại thôn T, xã Q, huyện Y; xe mô tô BKS 98M1-337.33 thu giữ của Vũ Nhất A là của anh Vũ Văn H4, sinh năm 1973, trú tại thôn C, xã T, huyện L; xe mô tô BKS 98G1-167.55 thu giữ của Lê Doãn H5 là của chị Vũ Thị H6, sinh năm 1986, trú tại thôn L, xã T, huyện Y. Các chủ sở hữu xe đều không biết các đối tượng điều khiển xe và mang theo hung khí đi đánh nhau nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu. Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

8.2. Xe mô tô nhãn hiệu Honda wave không BKS do Vũ Đức P điều khiển chở H2 mang hung khí đi đánh nhau. Sau khi sự việc xảy ra, bà Hoàng Thị L1 là mẹ của P đã bán cho một người không quen biết nên không thu giữ được. Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

8.3. Đối với chiếc điện thoại di động Iphone XS của Đào Văn Đ3, điện thoại di động Iphone 12 pro max của Phạm Hải Đ2; điện thoại di động Iphone 12pro max và Iphone 6 của Nguyễn Trọng T2; điện thoại di động Iphone 8plus của Phạm Hoàng Anh T7; điện thoại di động Samsung Galaxy A12 của Đoàn Q2 đều không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các các đối tượng nêu trên Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

[9]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Ngô Diêm Đ, Hoàng Mạnh H2, Vũ Nhất A, Vũ Hải N, Nguyễn Tuấn S1Vũ Đức P mỗi thị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật và mức hình phạt:
    1. Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt:
      1. Bị cáo Ngô Diêm Đ 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      2. Bị cáo Vũ Hải N 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      3. Bị cáo Nguyễn Tuấn S1 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      4. Bị cáo Vũ Đức P 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Hoàng Mạnh H2 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    3. Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Nhất A 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Ngô Diêm Đ cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Hoàng Mạnh H2 cho UBND xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Vũ Hải N cho UBND xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Vũ Nhất A cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Nguyễn Tuấn S1 cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Vũ Đức P cho UBND thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về vật chứng:
  2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:

    1. Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kim loại dài 167,8 cm một đầu hàn gắn 03 thanh kim loại có đầu nhọn; 01 thanh kiếm dài 87,5cm có chuôi gỗ dài 25cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 60,7cm để trong vỏ kiếm gỗ màu đen; 04 vỏ chai bia S và nhiều mảnh thuỷ tinh bị vỡ; 01 lồng nhựa màu đen;
    2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max.
  1. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Ngô Diêm Đ, Hoàng Mạnh H2, Vũ Nhất A, Vũ Hải N, Nguyễn Tuấn S1Vũ Đức P mỗi phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho các bị cáo, người đại diện cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tp Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp Bắc Giang;
  • - UBND xã Tân Dĩnh, xã Hương Lạc, xã Tân Hưng, xã Hương Sơn, xã Tân Thanh, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, BG;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Trần Kiên

THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trần Kiên

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 132/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Mạnh Hà cùng đồng phạm Cố ý GTT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger