Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2024/HS-ST

Ngày 25-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

-

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Lợi.
  2. Bà Phạm Tú Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh N, sinh năm 1994 tại tỉnh Đồng Nai; thường trú: Số D, tổ C, khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Thanh T (đã chết) và bà Trần Thị H (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; có 01 em ruột, sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/12/2023, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Trường V, sinh năm 1983; thường trú: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa và chị Võ Tố N1, sinh năm 1994; thường trú: Thôn C, xã L, huyện A, tỉnh Nghệ An; cùng trú tại: Số C, hẻm C, đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Lê Thị Minh T1, sinh năm 1997; thường trú: Số A, tổ E, khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
  2. Anh Lê Công M, sinh năm 2003; thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
  3. Anh Lê Anh K, sinh năm 2000; thường trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1994;
  2. Anh Phạm Chí T2, sinh năm 1994;
  3. Chị Ngô Xuân M1, sinh năm 2000.

Tất cả người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh N sống tại số D, tổ C, khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và không có nghề nghiệp ổn định.

Anh Nguyễn Trường V là chủ tiệm mua bán xe mô tô cũ Phúc Khang tại số C, hẻm C, đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương còn chị Võ Tố N1 là vợ của anh Nguyễn Trường V và cùng với anh V quản lý kinh doanh tại tiệm mua bán xe mô tô cũ P.

Chị Lê Thị Minh T1 là người buôn bán xe mô tô cũ. Chị T1 và anh V thường mua bán xe cũ với nhau.

Ngày 04/12/2023, N truy cập vào trang “Chợ tốt” trên mạng xã hội Facebook, thấy có tài khoản đăng mua bán xe mô tô cũ. Do thiếu tiền tiêu xài nên N thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người bán xe mô tô cũ. N sử dụng điện thoại Samsung A32 số sim 0779155214 gọi vào số điện thoại 0776.585.xxx được đăng trên thông tin của bài đăng, gặp chị Võ Tố N1. Sau đó, N sử dụng tài khoản Z tên Nguyễn Thanh T3 kết bạn với tài khoản Zalo Như Minơ của chị N1 và được chị N1 gửi định vị địa điểm bán xe qua ứng dụng. Đến khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 04/12/2023, Nam đặt xe Công nghệ đến tiệm mua bán xe Phúc Khang xem và muốn mua xe mô tô hiệu Winner biển số 86B8 - 678.03. Sau đó, N hẹn chị N1 đến ngày 05/12/2023 sẽ đến xem và mua xe.

Để tạo sự tin tưởng, khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 06/12/2023, N dùng tài khoản Zalo tên A ken đô đốc để nhắn tin với anh Lê Anh K (Nam giới thiệu với anh K tên P, quen biết qua tin nhắn zalo) nhắn tin rủ anh K sáng ngày 07/12/2023, đi uống cà phê và đi xem xe để N mua sử dụng, đồng thời N không nói cho anh K biết về ý định chiếm đoạt xe của N. N hẹn anh K đến quán cà phê gần ngã ba C, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 07/12/2023, N dùng tài khoản Zalo tên Nguyễn Thanh T3 nhắn tin cho chị N1, hẹn 15 giờ 00 phút cùng ngày qua xem và mua xe. Sau đó, N đặt xe công nghệ đến quán cà phê trên đường N cách Ngã ba Cây Điệp khoảng 500 mét, để chờ K, khoảng 30 phút sau thì K đến gặp N để đi mua xe cùng N.

Khoảng 14 giờ 00 phút, N đặt thuê một chiếc xe ô tô 07 chỗ (không rõ nhãn hiệu, biển số) chở N và K đến tiệm mua bán xe mô tô Phúc Khang. Tại đây, N gặp anh Nguyễn Trường V và chị Võ Tố N1, N yêu cầu được xem và chạy thử xe mô tô hiệu Winner biển số 86B8 - 672.03 (giấy chứng nhận đăng ký xe anh V để trong cốp xe để khách mua xe dễ kiểm tra). Để tạo lòng tin với anh V, N kêu K chạy thử xe một vòng còn N ở lại tiệm, thấy có 01 người còn ở lại tiệm cầm đồ của mình V đồng ý. Sau đó, N yêu cầu được chạy thử, K ở lại tiệm nên anh V đồng ý, Nam chạy được 02 phút thì quay lại nói “xe bị hết bố thắng, cạ vào đĩa” và yêu cầu được chạy thử thêm 01 lần nữa thì anh V cũng đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô hiệu Winner biển số 86B8 - 672.03 đi luôn về hướng thành phố B, tỉnh Đồng Nai và không quay lại. Anh V và chị N1 chờ khoảng 20 phút, không thấy N quay lại, chị N1 gọi vào số 0975527454 của N nhưng không liên lạc được. Lúc này, vợ chồng anh V biết đã bị lừa nên cùng với K đến Công an phường D, thành phố D để trình báo vụ việc.

Khi anh Nguyễn Trường V bị mất xe mô tô hiệu Winner biển số 86B8 - 672.03 thì có nhờ chị Lê Thị Minh T1 hỗ trợ tìm xe cho anh V (vì trong xe có gắn định vị liên kết ứng dụng với điện thoại của chị T1). Chị T1 theo dõi định vị và biết được vị trí của xe.

Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô hiệu Winner biển số 86B8 - 672.03, Nguyễn Thanh N điều khiển về nhà tại khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhằm mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài. Trên đường đi, N điều khiển xe vào cửa hàng trang trí xe mô tô trên đường B, khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, gặp anh Nguyễn Văn C để yêu cầu thay kính xe, thay thắng xe, lột keo trong bảo vệ bên ngoài dàn mũ xe và mượn khóa ở tiệm tháo biển số xe nhằm mục đích tránh bị phát hiện. Khi nhờ anh C thì N có nói với anh C là tháo biển số để làm hồ sơ sang tên ở Bình Dương.

Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, N điều khiển xe đến cửa hàng sửa xe mô tô Hải Đại T4, trên đường B, tổ E, khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, N gặp anh Phạm Chí T2, yêu cầu sửa xe. Trong lúc sửa xe, chị Lê Thị Minh T1 và anh Ngô Xuân M1 là bạn của chị T1 cũng đến tiệm S. Tại đây, chị T1 hỏi ai là chủ xe thì N đi ra và đưa giấy chứng nhận đăng ký xe, chị T1 nói đây là xe của chị T1 thì N bỏ chạy. Anh Ngô Xuân M1 đuổi theo và cùng người dân hỗ trợ bắt giữ đưa về trụ sở Công an phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vụ việc, được Công an phường L, thành phố B báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D.

Căn cứ Kết luận định giá số 218/BBĐG-HĐĐGTC ngày 19/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố D, kết luận: Xe mô tô hiệu WinnerX, biển số 86B8 - 67203 trị giá 19.000.000 đồng.

Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản trên.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe mô tô Honda, màu sơn Đen, số loại: WinnerX, số khung: RL11KC4409NY015414, số máy; KC34E5015524;
  • 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 86B8 - 672.03;
  • 01 biển số xe mô tô số: 86B8 - 672.03;
  • 01 chìa khóa Smartkey màu đen hiệu Honda.
  • 01 điện thoại Samsung A32, sim số 0779155214 thu giữ của N.

* Xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 xe mô tô Honda, màu sơn Đen, số loại: WinnerX, số khung: RL11KC4409NY015414, số máy; KC34E5015524, biển số xe mô tô số: 86B8 - 672.03 là do anh Lê Công M đứng tên sở hữu. Anh M đã bán cho chị Lê Thị Minh T1, nhưng không làm thủ tục sang tên. Anh Nguyễn Trường V mua lại xe từ chị T1 để bán lại kiếm lời nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Xe mô tô, chìa khóa xe và các giấy tờ trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại cho bị hại Nguyễn Trường V.

+ Đối với 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A32 màu đen, sim số 0779155214, Nam làm phương tiện phạm tội cần tịch thu vào Ngân sách Nhà nước, còn số sim thì tịch thu tiêu hủy.

* Đối với anh Lê Anh K không bàn bạc về việc cùng chiếm đoạt xe với N, không biết N nhờ đi tìm mua xe để chiếm đoạt nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại là anh Nguyễn Trường V và chị Võ Tố N1; anh V và chị N1 không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Bản Cáo trạng số 137/CT-VKS-DA ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A32 màu đen và tịch thu tiêu hủy sim số 0779155214.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Ngày 07/12/2023 tại tiệm mua bán xe mô tô cũ Phúc Khang tại số C, hẻm C đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thanh N dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 01 xe mô tô Honda, màu sơn Đen, số loại: WinnerX, số khung: RL11KC4409NY015414 số máy; KC34E5015524, biển số xe mô tô số: 86B8 - 672.03, trị giá 19.000.000 đồng của anh Nguyễn Trường V và chị Võ Tố N1. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh N đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng số 137/CT-VKS-DA ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vì tư lợi. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người lao động có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[7] Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì nên không đặt ra vấn đề xem xét.

[8] Về hình phạt:

+ Hình phạt chính: Xét bị cáo mặc dù phạm tội ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

+ Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử, xét thấy hình phạt chính đã đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên không phạt bổ sung.

[9] Xử lý vật chứng: Xét 01 điện thoại di động S1 A32 màu đen là tài sản của bị cáo Nguyễn Thanh N, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với sim số 0779155214 không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với anh Lê Anh K không bàn bạc cùng chiếm đoạt xe với N, không biết N nhờ đi tìm mua xe để chiếm đoạt nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý là có căn cứ.

[11] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt là phù hợp nên chấp nhận.

[12] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2023.

  2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước điện thoại di động Samsung Galaxy A32 màu đen
    • - Tịch thu tiêu hủy sim số 0779155214.

    (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Thanh N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Công an thành phố Dĩ An (01);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo (01);
  • - Người tham gia tố tụng (04);
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Liễng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 132/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh N phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger