|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2024/HNGĐ-ST Ngày 05/6/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Thắng;
- Ông Ngô Thanh Ngọc Cảnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1988; (Xin vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang;
- * Bị đơn: Ông Lê Trường G, sinh năm 1980; Vắng mặt.
- Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/02/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày như sau:
Bà và ông Lê Trường G tự tìm hiểu và quen biết đi đến kết hôn với nhau vào năm 2022, không tổ chức đám cưới, hôn nhân lần thứ 2 của bà và lần thứ nhất của ông G. Ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V ngày 03/11/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân tới nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông G thường xuyên nhậu nhẹt, không tôn trọng vợ, không quan tâm chăm sóc vợ con. Ngoài ra, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nhận thấy hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông G. Về con chung: Vợ chồng ông bà có 01 con chung tên là Lê Kim T, sinh ngày 25/9/2022, hiện nay đang sống với bà. Nếu được ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tại đơn khởi kiện, bà yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đồng/ tháng nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bà không yêu cầu ông G phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Lê Trường G đến để tiến hành hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông G vẫn vắng mặt không có lý do và không cung cấp lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn”. Bị đơn ông Lê Trường G có hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo thẩm quyền.
Bà Trần Thị H là nguyên đơn có đơn yêu cầu đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; ông Lê Trường G là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà H và ông G.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà H và ông G chung sống với nhau vào năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang ngày 03/11/2022 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà H xin ly hôn nên Toà án thụ lý, giải quyết là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Trong quá trình hôn nhân, bà H trình bày do ông G thường xuyên nhậu nhẹt, không tôn trọng vợ, không quan tâm chăm sóc vợ con, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Thời gian qua, hai vợ chồng cũng có thời gian để hàn gắn hạnh phúc nhưng không có kết quả. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông G.
Tòa án đã triệu tập ông G để tham gia phiên hòa giải nhưng ông G vắng mặt và không trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà H thể hiện ông G không muốn hàn gắn.
Cuộc sống hôn nhân, vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, trở thành một tế bào của xã hội, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa bà H và ông G đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa bà H và ông G đã mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông G.
[2.2] Về con chung: Bà H xác định trong thời kỳ hôn nhân, giữa bà và ông G có 01 con chung tên Lê Kim T, sinh ngày 25/9/2022. Sau ly hôn, bà H yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T.
Xét thấy, cháu T hiện nay đang sống với bà H và hiện nay cháu T dưới 36 tháng tuổi. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu T, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu T, giúp cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu T cho bà H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, tuy nhiên bà H không yêu cầu ông G phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Bà H phải tạo điều kiện cho ông G được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà H không tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này giữa bà H và ông G có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H.
- - Về hôn nhân: Bà Trần Thị H được ly hôn với ông Lê Trường G.
- - Về con chung: Giao 01 con chung tên Lê Kim T, sinh ngày 25/9/2022 cho bà H được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Ông G không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà H không có yêu cầu.
Bà H phải tạo điều kiện cho ông G được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này giữa bà H và ông G có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013647 ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Bà H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông G được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Vân |
Bản án số 132/2024/HNGĐ-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 132/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
