Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 132/2024/HNGĐ-ST

Ngày 02-8-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đình Hùng

Ông Doãn Văn Sáng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 156/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Hồng N, nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng.

- Bị đơn: Anh Phạm Đình T (tên gọi khác Phạm Văn T1), nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Các đương sự đều xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn ly hôn, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – chị Trương Thị Hồng N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Đình T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 11/7/2008. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do anh Phạm Đình T đánh bạc, uống rượu, không chịu lao động, không quan tâm đến vợ, con và đôi lúc có hành vi đánh chị. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2023 cho đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải song không đạt kết quả. Nay chị Trương Thị Hồng N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên chị đề nghị Tòa án cho chị ly hôn với anh Phạm Đình T.

Về con chung: Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T có một con chung là Phạm Bảo A, sinh ngày 16/8/2016. Hiện nay, cháu Phạm Bảo A sức khoẻ bình thường. Ly hôn, chị Trương Thị Hồng N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị xin tự giải quyết với anh Phạm Đình T, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Trương Thị Hồng N xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản lấy lời khai ngày 03/7/2024 bị đơn – anh Phạm Đình T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện, hoàn cảnh, thời gian kết hôn, thời gian sống ly thân của vợ chồng anh Phạm Đình T thống nhất với lời khai của chị Trương Thị Hồng N. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do chị Trương Thị Hồng N tự ý đi lại, lúc ở nhà mẹ đẻ, lúc ở nhà chồng nên tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên giải song không thành. Nay, chị Trương Thị Hồng N đề nghị ly hôn với anh thì anh đồng ý.

Về con chung: Họ tên, ngày tháng năm sinh, sức khoẻ của con chung anh Phạm Đình T thống nhất như chị Trương Thị Hồng N trình bày. Từ nhỏ cháu Phạm Bảo A sinh sống cùng vợ chồng anh và bà nội. Từ khi chị N bỏ về nhà mẹ đẻ thì ngày thường cháu A ở cùng anh, cuối tuần về ở cùng chị N. Ly hôn, anh đề nghị được nuôi dưỡng con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh xin tự giải quyết với chị Trương Thị Hồng N, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Phạm Đình T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, con chung của chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T như chị Trương Thị Hồng N, anh Phạm Đình T trình bày là đúng. Mâu thuẫn vợ chồng anh T, chị N phát sinh do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau một năm nay. Mâu thuẫn vợ chồng chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T đã được gia đình hoà giải song không đạt kết quả. Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T đều có điều kiện nuôi con như nhau, anh chị đều sinh sống tại xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về điều luật áp dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Hồng N: Xử cho chị Trương Thị Hồng N ly hôn với anh Phạm Đình T. Về con chung: Giao con chung là Phạm Bảo A, sinh ngày 16/8/2016 cho chị Trương Thị Hồng N nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T đều xin tự giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung: Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T đều xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trương Thị Hồng N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn, bị đơn là anh Phạm Đình T đang sinh sống tại huyện T, thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 11/7/2008, theo Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau một năm nay. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hoà giải song không đạt kết quả. Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T đều đề nghị Toà án cho anh chị được ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Hồng N, xử cho chị Trương Thị Hồng N ly hôn với anh Phạm Đình T.

[4] Về con chung: Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T có một con chung là: Phạm Bảo A, sinh ngày 16/8/2016. Hội đồng xét xử, xét thấy: Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Cháu Phạm Bảo A có nguyện vọng được ở với cả bố và mẹ. Theo xác minh tại chính quyền địa phương: Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T đều có điều kiện nuôi con như nhau. Cháu Phạm Bảo A hiện nay đang ở với với anh Phạm Đình T nhưng cuối tuần cháu vẫn về ở cùng chị Trương Thị Hồng N. Xét thấy, cháu Phạm Bảo A là con gái, đang độ tuổi phát triển cần có sự quan tâm chăm sóc của người mẹ. Anh T, chị N đều đang sinh sống ở xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng nên việc cháu Phạm Bảo A ở với chị N sẽ không ảnh hưởng đến việc học tập của con chung. Do đó để đảm bảo quyền lợi của con chung, cần giao con chung cho chị Trương Thị Hồng N nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T xin tự giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T đều đều xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trương Thị Hồng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Hồng N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Hồng N ly hôn anh Phạm Đình T (tên gọi khác Phạm Văn T1).
  2. Về con chung:

    Giao con chung tên là Phạm Bảo A, sinh ngày 16/8/2016 cho chị Trương Thị Hồng N nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T xin tự giải quyết với nhau và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  3. Về tài sản chung: Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T đều xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí dân sự: Chị Trương Thị Hồng N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009923 ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Trương Thị Hồng N đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo:

    Chị Trương Thị Hồng N và anh Phạm Đình T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
  • - UBND xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 132/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyệt + Thảo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger