|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 132/2025/HSST Ngày: 23/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Dân
Bà Phạm Thị Sơn
- Thư ký Tòa án phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà:
Bà Trịnh Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 23/6/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 101/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2025/QĐXXST-HS ngày 28/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, đối với bị cáo:
Hoàng Thành T, giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm 1996 tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; số thẻ CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Hoàng Văn D, sinh năm 1963; Họ và tên mẹ: Đỗ Thị M, sinh năm 1967; Vợ: Lê Thị T1, sinh năm 1994 và có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2025; tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 19/01/2024, bị Công an huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/02/2025 đến ngày 08/4/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh – Có mặt tại phiên tòa
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Chúc Bá D1, sinh năm 1990
- Anh Lê Hào Q, sinh năm 1981
- Anh Nguyễn Trọng Q1, sinh năm 1996
- Anh Trần Văn H, sinh năm 1998
Địa chỉ: Thôn Yên Tôn, xã Anh Sơn thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: Thôn Kim Sơn, xã Các Sơn, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: Thôn Đa Hậu, xã Tượng Văn, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: Thôn Q, xã C, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng từ giữa năm 2022, do có tiền tích lũy cá nhân nên Hoàng Thành T, trú tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nảy sinh ý định cho vay tiền với lãi cao để thu lợi nhuận. Thực hiện ý định trên, trong khoảng thời gian từ tháng 08/2022 đến khoảng đầu năm 2025, Hoàng Thành T đã thực hiện hành vi cho vay lãi dưới hình thức tín chấp (không cần tài sản cầm cố, thế chấp) đối với một số công dân trên địa bàn huyện N và TX. N, tỉnh Thanh Hóa với lãi suất là 3.000 đồng/triệu/ngày, tương ứng với các mức lãi suất là 108%/năm. Khách vay tiền của Thông thường là người quen biết hoặc khách do người quen trung gian giới thiệu, khi hai bên thống nhất các điều kiện vay thì T sẽ giao tiền vay cho khách bằng hình thức đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng TMCP Q3 (MB) của Thông số 0969655655, khi người vay trả tiền gốc, lãi thì Thông thường nhận thông qua chuyển khoản ngân hàng hoặc tiền mặt.
Căn cứ vào nội dung tố giác của công dân, Phòng C Công an tỉnh T đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Thành T tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, đồng thời tiến hành triệu tập Hoàng Thành T đến Phòng PC02 để làm việc. Quá trình làm việc, Hoàng Thành T đã xin đầu thú và khai báo về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” của mình. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, Cơ quan điều tra có đủ căn cứ xác định Hoàng Thành T đã thực hiện hành vi cho vay với mức lãi nặng đối với 04 (bốn) công dân sau đây:
-
Trường hợp anh Chúc Bá D1 sinh năm 1990 trú tại thôn Y, xã A, TX. N, tỉnh Thanh Hóa:
Ngày 11/8/2022, anh Chúc Bá D1 vay của Hoàng T2 Thông số tiền là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) với lãi suất là 3000 đồng/triệu/ngày tương đương mức lãi suất 09%/tháng hay 108%/năm, chu kỳ trả lãi là 01 tháng. Sau khi thống nhất gói vay, T cắt lãi trước tháng đầu tiên là 3.600.000 đồng và chuyển khoản cho anh D1 số tiền 36.400.000 đồng (Ba mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).
Sau đó, đến khoảng ngày 15 hàng tháng thì anh D1 sử dụng tài khoản ngân hàng Q3 số 1990666869999 hoặc V số 9985784136 chuyển khoản trả lãi số tiền là 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng) vào số tài khoản mở tại ngân hàng Q3 của T là 0969655655.
Anh D1 trả lãi cho T đến hết tháng 09/2024 thì do hoàn cảnh khó khăn nên anh D1 xin T không trả lãi nữa mà xin chỉ trả tiếp tiền gốc còn thiếu, Thông đồng ý. Căn cứ vào sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu điều tra xác định đến nay tổng số tiền lãi mà anh D1 cần đóng cho T theo thỏa thuận tính đến tháng 09/2024 là 93.600.000 đồng, trong đó số tiền lãi mà anh D1 đã đóng được cho T là 78.900.000 đồng. Như vậy, số tiền mà T có thể thu lợi bất chính theo thỏa thuận trong gói vay này là 76.266.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng), trong đó số tiền mà T đã thu lợi bất chính là 61.566.667 đồng. Hiện nay anh D1 chưa thanh toán số tiền gốc gói vay là 40.000.000 đồng cho T.
-
Trường hợp anh Lê Hào Q, sinh năm 1981, trú tại thôn K, xã C, TX. N, tỉnh Thanh Hóa:
Khoảng giữa tháng 10/2022, anh Lê Hào Q vay của Thông số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) với mức lãi suất là 3000 đồng/triệu/ngày tương đương mức lãi suất 109,5%/năm; thanh toán tiền lãi theo chu kỳ 01 tháng trả một lần. Sau khi thống nhất điều kiện vay, T đưa cho anh Q số tiền mặt là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) mà không cắt trước tiền lãi tháng đầu tiên. Sau đó, từ tháng 11/2022, mỗi tháng anh Q sử dụng số tài khoản của anh Q là 3522205323821 mở tại ngân hàng N hoặc số tài khoản 0938829988 mở tại Ngân hàng Q3 chuyển khoản đến số tài khoản của T là 0969655655 mở tại ngân hàng Q3 số tiền lãi là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu điều tra xác định đến nay tổng số tiền lãi mà anh Q đã đóng trong gói vay này là 45.900.000 đồng. Như vậy, số tiền mà T đã thu lợi bất chính (cũng là số tiền thu lợi bất chính có thể thu theo thỏa thuận) đối với gói vay này là 37.400.000 đồng (Ba mươi bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).
-
Trường hợp anh Nguyễn Trọng Q1, sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa:
Ngày 19/11/2022, anh Nguyễn Trọng Q1 vay của Thông số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) với lãi suất 3000 đồng/1 triệu/01 ngày, định kỳ trả lãi 01 tháng 01 lần. T chuyển tiền vay 20 triệu cho anh Q1 từ tài khoản ngân hàng của T là 0969655655 đến số tài khoản của anh Q1 là Q3 số 3128686899999. Anh Q1 thanh toán tiền lãi cho T bằng tài khoản ngân hàng khác của anh Q1 là T4: 13695999999.
Anh Q1 trả lãi cho T đến hết tháng 01/2024 thì do hoàn cảnh khó khăn nên xin T không trả lãi nữa mà xin chỉ trả tiếp tiền gốc còn thiếu, Thông đồng ý. Căn cứ vào sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu điều tra xác định đến nay tổng số tiền lãi mà anh Q1 cần đóng cho T theo thỏa thuận tính đến tháng 01/2024 là 25.200.000 đồng, trong đó số tiền lãi mà anh Q1 đã đóng được cho T là 23.400.000 đồng. Như vậy, số tiền mà T có thể thu lợi bất chính theo thỏa thuận trong gói vay này là 20.533.333 đồng (Hai mươi triệu năm trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), trong đó số tiền mà T đã thu lợi bất chính là 18.733.333 đồng. Hiện nay anh Q1 chưa thanh toán số tiền gốc gói vay là 20.000.000 đồng cho T.
-
Trường hợp anh Trần Văn H, sinh năm 1998, trú tại thôn Q, xã C, TX. N, tỉnh Thanh Hóa:
Ngày 26/4/2023, anh Trần Văn H vay số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) của Hoàng T2 Thông với mức lãi suất là 3000 đồng/triệu/ngày, tương ứng với lãi suất là 109,5%/năm, trả lãi theo chu kỳ 01 tháng trả lãi một lần với số tiền lãi trả mỗi lần là 10.800.000 đồng (Mười triệu tám trăm nghìn đồng). Sau khi thống nhất khoản vay, do chưa có đủ số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) nên Thông sử dụng tài khoản ngân hàng của T là 0969655655 mở tại Ngân hàng TMCP Q3 (MB) chuyển khoản đến tài khoản của anh H là Ngân hàng TMCP Q3 (MB) số [...] số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Đến ngày 29/4/2023, T đưa cho anh H số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng), trong đó có 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) bằng hình thức chuyển khoản và 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) bằng hình thức đưa tiền mặt.
Anh H duy trì trả lãi đều đặn theo thỏa thuận bằng hình thức sử dụng tài khoản Q3: 888883128 chuyển tiền đến tài khoản Q3: 0969655655 của T. Đến hết kỳ lãi tháng 10/2023 thì do khó khăn nên anh H xin T dừng tính lãi đối với gói vay và xin được trả dần số tiền gốc, Thông đồng ý. Trong tháng 10/2023, anh H chuyển khoản trả trước cho Thông số tiền gốc khoảng 20 triệu đồng. Đến cuối năm 2023, anh H đã tất toán hết số tiền gốc còn lại cho T bằng tiền mặt.
Căn cứ vào sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu điều tra xác định đến nay tổng số tiền lãi mà anh H đã đóng trong gói vay này là 64.800.000 đồng. Như vậy, số tiền mà T đã thu lợi bất chính (cũng là số tiền thu lợi bất chính có thể thu theo thỏa thuận) đối với gói vay này là 52.800.000 đồng (năm mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).
* Tài liệu, vật chứng thu giữ: Không.
* Trách nhiệm dân sự:
Do việc vay mượn dân sự giữa những người vay và bị cáo Hoàng Thành T là tự nguyện, thống nhất thỏa thuận với nhau về lãi suất, những người vay mà Cơ quan điều tra đã trực tiếp làm việc đều không yêu cầu, đề nghị bị cáo Hoàng Thành T chịu trách nhiệm về khoản thu lời bất chính đối với người vay. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.
Quá trình điều tra H T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Cáo trạng số: 56/CT-VKS-P2 ngày 07/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Hoàng Thành T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 BLHS - Xử phạt: Hoàng Thành T từ 210.000.000₫ đến 230.000.000đ.
- Về biện pháp tư pháp:
Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu sung công quỹ đối với khoản tiền bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội: 230.000.000đồng (hiện số tiền gốc còn lại nơi anh Chúc Bá D1 40.000.000 đồng, anh Nguyễn Trọng Q1 20.000.000 đồng) và số tiền lãi tối đa theo quy định BLDS đã thu 42.500.000 đồng. Tổng cộng 272.500.000 đồng (trong đó, truy thu đối với bị cáo T: 212.500.000đồng, truy thu của anh D1 40.000.000 đồng, truy thu của anh Q1 20.000.000 đồng).
Đối với khoản tiền thu lợi bất chính 170.500.000 đồng, theo quy định bị cáo có nghĩa vụ trả lại cho những người vay. Quá trình điều tra không chứng minh được người vay đã sử dụng số tiền vay vào mục đích bất hợp pháp, tất cả những người vay này đều đề nghị và cam kết không yêu cầu bị cáo Hoàng Thành T phải chịu trách nhiệm về khoản thu lời bất chính đối với họ nên không tịch thu sung công khoản tiền này đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa và tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố. Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng.
[2] Về chứng cứ xác định tội phạm:
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thành T khai nhận: Trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm 2024, Nguyễn Thành T3 đã sử dụng số tiền 230.000.000đ cho anh Chúc Bá D1, Nguyễn Trọng Q1, Lê Hào Q, Trần Văn H vay lãi nặng dưới hình thức tín chấp (không cần tài sản cầm cố, thế chấp) với mức lãi suất 3.000đồng/triệu/ngày, tương ứng với lãi suất 109,5%/năm, đã vượt quá 05 (năm) lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó số tiền lãi tối đa theo quy định BLDS mà T3 thu là 42.500.000 đồng, số tiền thu lời bất chính T3 có thể thu được theo thỏa thuận là 187.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính thực tế mà T3 thu là 170.500.000 đồng.
Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo không bổ sung thêm tình tiết gì làm thay đổi nội dung vụ án.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Quyết định truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hoàng Thành T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Đây là vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, bị cáo đã lợi dụng nhu cầu vay cần vay tiền của người dân một cách nhanh nhất, không cần thế chấp tài sản và không phải thực hiện thủ tục gì, đã cho vay với lãi suất cao 109,5%/1 năm, vượt quá 05 (năm) lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, vì vậy cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có điều kiện để xem xét áp dụng nghiêm khắc hình phạt tiền là hình phạt chính, phù hợp với nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết 01/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 20/12/2021 hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án Hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
[5]. Về các biện pháp tư pháp
- Đối với số tiền 42.500.000đ (Bốn mươi hai triệu trăm nghìn đồng) là tiền lãi T đã thu được tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự, tuy không bị tính xác định trách nhiệm hình sự nhưng là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần truy thu của Hoàng T2 Thông số tiền này để sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với số tiền nợ gốc Hoàng Thành T cho anh Chúc Bá D1 vay 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng), anh Nguyễn Trọng Q1 20.000.000đ(Hai mươi triệu đồng). Anh D1, anh Q1 chưa trả cho T, đây là số tiền của T dùng vào việc phạm tội nên cần buộc anh D1, anh Q1 phải nộp lại số tiền này để sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với số tiền gốc Hoàng Thành T cho anh Lê Hào Q vay 50.000.000 đồng, anh Trần Văn H vay 120.000.000 đồng; Anh Lê Hào Q, anh Trần Văn H đã trả hết số tiền gốc cho T vì vậy cần truy thu của Thông số tiền này để sung công quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 170.500.000 đồng T đã thu lãi của anh Chúc Bá D1, anh Lê Hào Q, anh Nguyễn Trọng Q1, anh Trần Văn H vượt quá quy định của Bộ luật Dân sự - anh D1, anh Q1, anh Q1, anh H không có yêu cầu T trả, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 201; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35; khoản 2, 3 Điều 47 BLHS; Điều 6; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thành T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Xử phạt: Hoàng Thành T 210.000.000 đồng (Hai trăm mười triệu đồng).
Về biện pháp tư pháp:
- Truy thu để tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 42.500.000 đồng là tiền lãi bị cáo đã thu được tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự và số tiền gốc là công cụ phạm tội mà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã trả cho bị cáo 170.000.000 đồng. Tổng cộng truy thu của bị cáo số tiền là 212.500.000 đồng (hai trăm mười hai triệu năm trăm nghìn đồng)
- Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền gốc đã vay nhưng chưa thanh toán cho bị cáo Nguyễn Thành T3, cụ thể: Anh Chúc Bá D1 phải nộp số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng), anh Nguyễn Trọng Q1 phải nộp số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền thu lời vượt quá quy định của Bộ luật dân sự vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
- * Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật Thi hành án dân sự.
* Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt: anh Chúc Bá D1, anh Lê Hào Q, anh Lê Trọng Q2, anh Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |
Bản án số 132/2025/HSST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 132/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng từ giữa năm 2022, do có tiền tích lũy cá nhân nên Hoàng Thành T, trú tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nảy sinh ý định cho vay tiền với lãi cao để thu lợi nhuận. Thực hiện ý định trên, trong khoảng thời gian từ tháng 08/2022 đến khoảng đầu năm 2025, Hoàng Thành Thông đã thực hiện hành vi cho vay lãi dưới hình thức tín chấp (không cần tài sản cầm cố, thế chấp) đối với một số công dân trên địa bàn huyện N và TX. N, tỉnh Thanh Hóa với lãi suất là 3.000 đồng/triệu/ngày, tương ứng với các mức lãi suất là 108%/năm. Khách vay tiền của T thường là người quen biết hoặc khách do người quen trung gian giới thiệu, khi hai bên thống nhất các điều kiện vay thì Thông sẽ giao tiền vay cho khách bằng hình thức đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) của Thông số 0969655655, khi người vay trả tiền gốc, lãi thì T thường nhận thông qua chuyển khoản ngân hàng hoặc tiền mặt
