Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2025/HNGĐ-ST

Ngày 28 - 5 - 2025

V/v: “Ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh - Cán bộ hưu trí

2. Bà Thiều Thị Phi Loan - Nguyên Cán bộ

Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hòa

Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Biên Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên

tòa: Ông Trương Tùng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 2284/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thành Huyền T, sinh năm 1985 - có mặt;

Thường trú: 48 P, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: Số F đường N, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng K, sinh năm 1985 - vắng mặt;

Địa chỉ: 2 tổ A, khu phố T, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

❖ Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn - chị Trần Thành Huyền T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đăng K kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

vào năm 2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên cãi vã, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Nay tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh K.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Khánh D, sinh ngày 13/5/2015; Nguyễn Khả D1, sinh ngày 31/8/2019 và Nguyễn Đức K1, sinh ngày 14/11/2022. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 03 con chung, yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 6.000.000 đồng (mỗi con 2.000.000 đồng).

Tuy nhiên, tại phiên tòa ngày hôm nay, chị Trần Thành Huyền T đề nghị thay đổi yêu cầu đơn khởi kiện về phần cấp dưỡng nuôi con như sau: Tạm thời không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

❖ Bị đơn - anh Nguyễn Đăng K trình bày:

Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản theo trình tự tố tụng nhưng không tham gia tố tụng và không cung cấp tài liệu, văn bản trình bày ý kiến về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

❖ Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được đảm bảo và các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ. Phiên tòa được thực hiện dân chủ, bình đẳng. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, xét thấy vợ chồng chị T, anh K có mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T. Về con chung: Anh, chị có 03 con chung là Nguyễn Khánh D, sinh ngày 13/5/2015; Nguyễn Khả D1, sinh ngày 31/8/2019 và Nguyễn Đức K1, sinh ngày 14/11/2022, đề nghị hội đồng xét xử giao các con chung cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh K không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: đương sự khai tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét. Về nợ chung: đương sự trình bày không có nên không đặt ra xem xét. Về án phí đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

2

[1] Về tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng bị đơn theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền và pháp luật áp dụng:

- Về quan hệ pháp luật: chị Trần Thành Huyền T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Đăng K. Xét anh chị là vợ chồng có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2011, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp, đây là tranh chấp về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Anh Nguyễn Đăng K có nơi cư trú tại địa chỉ: 2 tổ A, khu phố T, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về pháp luật áp dụng: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh K được xác lập năm 2011, quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, chị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh K nên Hội đồng xét xử áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Theo chị T trình bày thì quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, hiện anh chị đã ly thân với nhau, chị xác định hiện nay không còn tình cảm với anh K, đề nghị được giải quyết ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo nội dung khởi kiện xin ly hôn của chị T cho anh K và triệu tập nhiều lần nhưng anh K vẫn vắng mặt không lý do, thể hiện anh cũng đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị T và anh K là không thể hàn gắn, đoàn tụ, đời sống chung của vợ chồng là không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho ly hôn.

[4] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Khánh D, sinh ngày 13/5/2015; Nguyễn Khả D1, sinh ngày 31/8/2019 và Nguyễn Đức K1, sinh ngày 14/11/2022. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 03 con chung. Xét thấy, cháu Nguyễn Khánh D có nguyện vọng xin được ở với chị T, đồng thời hiện nay cả 03 cháu do chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo đời sống, sinh hoạt hằng ngày của các cháu, nên Hội đồng xét xử giao các cháu là Nguyễn Khánh D, Nguyễn Khả D1 và Nguyễn Đức K1 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tại phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn - chị Trần Thành Huyền T tự nguyện xin thay đổi yêu cầu đơn khởi kiện, cụ thể: Về cấp dưỡng tạm thời không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung nên chấp nhận yêu cầu này của chị T.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Do anh K không có lời khai nên không có cơ sở để xác định tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Chị T trình bày tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

3

[6] Về án phí: chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 238; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 9; Điều11; Điều 12; Điều 85; Điều 89; Điều 92; Điều 93 và Điều 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

❖ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Trần Thành Huyền T:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thành Huyền T được ly hôn anh Nguyễn Đăng K.

2. Về con chung: Giao 03 con chung là Nguyễn Khánh D, sinh ngày 13/5/2015; Nguyễn Khả D1, sinh ngày 31/8/2019 và Nguyễn Đức K1, sinh ngày 14/11/2022 cho chị Trần Thành Huyền T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đến tuổi thành niên và có khả năng lao động. Tạm thời anh Nguyễn Đăng K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, anh Nguyễn Đăng K không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, về nợ chung: không đặt ra xem xét.

❖ Về án phí: Chị Trần Thành Huyền T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp tại biên lai số 0004005 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Chị T đã nộp xong.

❖ Về quyền kháng cáo: chị Trần Thành Huyền T có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Đăng K có quyền kháng cáo

4

trong hạn 15 kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Đội quản lý Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Đương sự (2);
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng và Thẩm phán (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quốc Thái

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, con chung

  • Số bản án: 132/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thành Huyền Trâm ly hôn Nguyễn Đăng Khoa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger