Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2025/HNGĐ-ST

Ngày 16-6-2025

V/v ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Thị Hạ

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 138/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025, về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Anh P, sinh năm 1973; địa chỉ: Số G đường L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Quỳnh H, sinh năm 1974; nơi ĐKHKTT: Số G đường L, phường C, quận N, Hải Phòng; hiện cư trú: 80 H, C, W, Australia; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 02/6/2025 nguyên đơn anh Nguyễn Anh P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Quỳnh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L (nay là phường C), quận N, thành phố Hải Phòng vào ngày 14/12/1996. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở Việt Nam và đã có hai con chung. Đến năm 2016 chị H sang Australia làm ăn, sinh sống nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn; do bất đồng quan điểm sống, lối sống tuy đã được 2 bên gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Do xa cách về địa lý, khả năng đoàn tụ không có, vì vậy anh đề nghị được ly hôn chị Nguyễn Thị Quỳnh H.

- Về con chung: Anh P và chị H có 02 chung là cháu Nguyễn Thị Quỳnh C, sinh ngày 03/6/1997 và cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 24/10/2011. Hiện nay cháu C đã trưởng thành (trên 18 tuổi) nên không yêu cầu Toà án giải quyết, đối với cháu Bảo N hiện nay đang sinh sống và học tập bên Australia với chị H. Do đó anh chị thoả thuận giao cháu Nguyễn Bảo N cho chị H nuôi dưỡng đến khi 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh P và chị H tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh P và chị H tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại Bản tự khai, uỷ quyền, đơn xin xét xử vắng mặt (đã được hợp pháp hoá Tổng Lãnh sự quán nước CHXHCN Việt Nam tại S, Australia) bị đơn chị Nguyễn Thị Quỳnh H trình bày:

Chị H thống nhất với anh Nguyễn Anh P về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống và chị cũng đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Anh P vì anh chị xa cách về mặt địa lý, khả năng đoàn tụ không có.

Về con chung: Chị H và anh P và có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Quỳnh C, sinh ngày 03/6/1997 và cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 24/10/2011. Hiện nay cháu C đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu Bảo N hiện nay đang sinh sống và học tập bên Australia với chị H nên đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Bảo N cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị và anh P tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về và tài sản chung: Anh chị tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết

Tại phiên toà, anh Nguyễn Anh P và Nguyễn Thị Quỳnh H vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như bản tự khai đã gửi Tòa án. Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do vắng mặt của các đương sự; công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn, nguyên đơn là anh Nguyễn Anh P hiện cư trú tại Hải Phòng và bị đơn chị Nguyễn Thị Quỳnh H, hiện cư trú tại Australia. Anh P và chị H đều đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Anh P và chị Nguyễn Thị Quỳnh H vắng mặt nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện và quá trình kết hôn như anh Nguyễn Anh P và chị Nguyễn Thị Quỳnh H trình bày, hôn nhân giữa anh P và chị H là hợp pháp theo quy định tại các điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Sau khi kết hôn lại anh P và chị H sống hạnh phúc được 1 thời gian sau đó đến năm 2016 khi chị H sang Australia sinh sống và chăm con thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, lối sống. Hiện nay anh chị sống mỗi người một nơi, mâu thuẫn càng trầm trọng, không ai còn quan tâm đến ai và không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa anh Nguyễn Anh P và chị Nguyễn Thị Quỳnh H không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Anh P, cho anh Nguyễn Anh P được ly hôn chị Nguyễn Thị Quỳnh H.

[4] Về con chung: Chị H và anh P có 02 con chung như anh chị đã trình bày. Hiện nay cháu C đã trên 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; cháu Nguyễn Bảo N hiện đang sinh sống, học tập ở Australia với chị H. Anh P và chị H thống nhất thoả thuận giao cháu N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy việc thoả thuận nuôi con của anh chị phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện, hoàn cảnh thực tế của các bên. Do đó, giao cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 24/10/2011 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, anh Nguyễn Anh P và Nguyễn Thị Quỳnh H tự thoả thuận không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Anh Nguyễn Anh P và Nguyễn Thị Quỳnh H tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

[6] Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Anh P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các điều 58; 81; 82; 83; 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Anh P:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Anh P được ly hôn chị Nguyễn Thị Quỳnh H.
  2. Về con chung: Anh P và chị H có 02 chung là cháu Nguyễn Thị Quỳnh C, sinh ngày 03/6/1997 và cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 24/10/2011. Hiện nay con chung Nguyễn Thị Quỳnh C đã trên 18 tuổi, không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết. Giao con chung Nguyễn Bảo N cho chị Nguyễn Thị Quỳnh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh P và chị H tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Anh P và chị Nguyễn Thị Quỳnh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn anh Nguyễn Anh P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001300 ngày 16/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo bản án:

    Anh Nguyễn Anh P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Chị Nguyễn Thị Quỳnh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSNDTP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND phường Cầu Đất, quận Ngô Quyền, TP Hải Phòng (ĐKKH ngày 14/12/1996);
  • - Lưu: Hồ sơ, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 132/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận YCKK
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger