|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 132/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15-12-2025 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHƯ VỰC 10 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Hoa Lam;
Bà Nguyễn Thị Bảo Khuyên.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Vương Lệ Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 819/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Trần Quế A, sinh năm 1979; địa chỉ: khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh; Số CCCD: [...], do Cục C về TTXH cấp ngày 29/4/2021 (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Thành Đ, sinh năm 1975; địa chỉ: Số I, đường Đ, hẻm E, khu phố N, phường B, tỉnh Tây Ninh; Số CCCD: [...], do Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 18/01/2023; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06-11-2025 và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - bà Nguyễn Trần Quế A trình bày:
Bà Quế A và ông Lê Thành Đ chung sống với nhau vào năm 1997, không có đăng ký kết hôn, đến năm 2000 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, không còn sống chung từ năm 2000 đến nay. Nay bà yêu cầu Tòa án không công nhận bà và ông Lê Thành Đ là vợ chồng.
Về con chung: Có 01 người tên Lê Nguyễn Thủy T, sinh năm 1998. Hiện con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – Lê Thành Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: ông và bà Quế A chung sống với nhau vào năm 1997, không có dăng ký kết hôn, đến năm 2000 thì xảy ra mâu thuẫn do không hòa hợp, không có tiếng nói chung và ông về nhà cha mẹ ruột sống từ năm 2000 đến nay. Nay ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà A, yêu cầu Tòa án không công nhận ông và bà Quế A là vợ chồng;
Về con chung: Có 01 người tên Lê Nguyễn Thủy T, sinh năm 1998. Hiện con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Tây Ninh:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và Thư ký tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận Bà Quế A và ông Đ là vợ chồng; con chung tên Lê Nguyễn Thủy T, sinh năm 1998. Hiện con chung đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không đặt ra Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: bà Quế A và ông Đ không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết; đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: bà Quế A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Đ; ông Đ là bị đơn có nơi cư trú tại khu phố N, phường T, tỉnh Tây Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Quế A và ông Đ chung sống với nhau vào năm 1997, không có đăng ký kết hôn. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, bà Quế A và ông Đ cùng xác định tình cảm không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, hiện cả hai đều có gia đình riêng nên đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng của ông bà. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Quế A và ông Đ.
[2.2] Về con chung: bà Quế A và ông Đ có 01 con chung là Lê Nguyễn Thủy T, sinh năm 1998. Hiện con chung đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không đặt ra Tòa án giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: bà Quế A và ông Đ không yêu cầu giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: bà Quế A và ông Đ khai không có nợ ai nên không yêu cầu giải quyết.
[3] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bà Quế A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 16 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố: Không công nhận bà Nguyễn Trần Quế A và ông Lê Thành Đ là vợ chồng.
- Về con chung: con chung là Lê Nguyễn Thủy T, sinh năm 1998. Hiện con chung đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không đạt ra Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: bà Quế A và ông Đ không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: bà Quế A và ông Đ khai không có nợ ai nên không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: bà Quế A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số: 0011474 ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận bà Quế A đã nộp xong.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Hùng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Vũ Hoa Lam Nguyễn Thị Bảo Khuyên |
Nguyễn Quốc Hùng |
Bản án số 132/2025/HNGĐ-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH về ly hôn
- Số bản án: 132/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
