|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU Bản án số: 132/2025/DS-ST Ngày 25 - 6 - 2025 “V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Hoàng Đắc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Diện
Ông Nguyễn Quốc Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Bà Trần Bích Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 123/2025/TLST- DS ngày 02 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2025/QĐXXST- DS ngày 20 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Kiều N, sinh năm: 1978; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 25 tháng 3 năm 2025): Bà Lê Kiều T, sinh năm: 1975; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Ông Ngô S, sinh năm: 1955; Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Thái B, sinh năm: 1973; Địa chỉ cư trú: Đường N, khu đô thị B, ấp B, xã L, TP ., tỉnh Cà Mau (có mặt).
2. Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước; Địa chỉ: khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Hải Đ – Chi Cục Trưởng
Người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 19/5/2025: Ông Lê Hoàng P – Chấp hành viên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 01/4/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Kiều T đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 21/11/2020 ông Ngô Sơn K hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng cho bà Lê Kiều N quyền sử dụng đất diện tích 850m², thửa số 471, tờ bản đồ số 05 tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS869879 cấp ngày 16/12/2019 do ông Ngô S đứng tên) với giá 300.000.000 đồng, ông S đã nhận tiền cọc tổng cộng 100.000.000 đồng, (ngày 21/11/2020 ông S nhận 80.000.000 đồng, ngày 19/10/2022 bà N chuyển khoản cho ông S 10.000.000 đồng; ngày 14/11/2021 và ngày 02/01/2022 bà N chuyển khoản cho ông S 02 lần là 10.000.000 đồng). Hai bên ký hợp đồng đặt cọc ngày 21/11/2020, bà N giao đủ số tiền 280.000.000 đồng mới chính thức ký hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, ông S nợ nhiều người và nhận tiền của bà N bỏ trốn đến nay. Nay bà N yêu cầu ông S trả lại số tiền 100.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thái B trình bày: Năm 2022, ông Ngô S có nợ vay của ông tổng cộng 198.000.000 đồng. Ông Ngô S thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS869879 cấp ngày 16/12/2019 do ông Ngô S đứng tên giao cho ông giữ. Tại Bản án số 17 ngày 24/4/2024 Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau tuyên xử buộc ông Ngô Sơn T1 cho ông số tiền vay vốn và lãi là 26.975.000 đồng.
Ngày 13/6/2024 Chi cục Thi hành án dân sự quyết định thi hành án theo yêu cầu số 1325/QĐ-CCTHADS để thi hành án. Ngày 01/7/2024 ông có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS869879 cấp ngày 16/12/2019 do ông Ngô S đứng tên cho Chi cục thi hành án huyện Cái Nước để làm thủ tục kê biên, phát mãi tài sản thi hành án.
Nay ông yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/11/2020 giữa ông Ngô S với bà Lê Kiều N đối với quyền sử dụng đất số CS869879 cấp ngày 16/12/2019 do ông Ngô S đứng tên thửa số 471, tờ bản đồ số 05 diện tích 850m² tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau để ông tiếp tục yêu cầu thi hành án phát mãi tài sản thi hành án cho ông.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Ngô S đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước phát biểu ý kiến như sau: Về việc chấp hành pháp luật trong tố tụng dân sự: Từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ được quy định trong pháp luật trong tố tụng dân sự. Về nội dung tranh chấp: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Kiều N, buộc bị đơn ông Ngô Sơn T1 cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng. Bị đơn phải chịu án phí theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Ngô S và người đại diện ủy quyền của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Đối với nguyên đơn bà Lê Kiều T xác định không có liên quan trong vụ án và yêu cầu xin rút yêu cầu khởi kiện buộc ông Ngô Sơn T1 cho bà số tiền 100.000.000 đồng. Xét thấy, việc rút yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử định chỉ đối với yêu cầu của bà Lê Kiều T đã rút.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
[3] Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Kiều N kiện đòi bị đơn ông Ngô Sơn T1 số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 100.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ “BẢN HỢP ĐỒNG” mua bán đất ngày 21/11/2020 giữa ông Ngô S với bà Lê Kiều N đối với quyền sử dụng đất số CS869879 cấp ngày 16/12/2019 do ông Ngô S đứng tên thửa số 471, tờ bản đồ số 05 diện tích 850m² tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau, giá thỏa thuận 300.000.000 đồng, ông S nhận cọc tổng cộng 100.000.000 đồng là có thực tế xảy ra. Xét hợp đồng mua bán đất ngày 21/11/2020 thể hiện nội dung, ông S chuyển nhượng cho bà N phần đất ngang 10m, dài hết hậu đất bao gồm phần đất bảo lưu ven sông, giá chuyển nhượng 300.000.000 đồng, bà N đưa trước 80.000.000 đồng và bà N chuyển khoản cho ông S 03 lần 20.000.000 đồng, tổng cộng 100.000.000 đồng. Trong thời hạn 03 năm phải trả đủ 280.000.000 đồng, còn lại 20.000.000 đồng khi nào ông S ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất sang tên bà N thì bà N sẽ trả đủ số tiền còn lại. Như vậy, giữa bà N với ông S chỉ thỏa thuận đặt cọc, chưa ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Mặt khác, toàn bộ quyền sử dụng đất do ông Ngô S đứng tên diện tích 850m² là phần đất ông S đặt cọc chuyển nhượng cho bà N, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước ra Quyết định kê biên thi hành án cho ông Nguyễn Thái B. Do đó, nguyên đơn đơn yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc ngày 21/11/2020 và buộc ông S trả lại tiền 100.000.000 đồng là có căn cứ, được chấp nhận.
[4] Tại phiên tòa, Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi theo pháp luật, xét yêu cầu của Người đại diện nguyên đơn là vượt quá phạm vi đơn khởi kiện. Hơn nữa, trong hợp đồng đặt cọc ngày 21/11/2020 không có quy định về phạt cọc nên phía nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi là không có căn cứ chấp nhận, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu theo pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 143, 147, 227, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, 328 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Kiều N. Tuyên hủy hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/11/2020 giữa ông Ngô S với bà Lê Kiều N.
Buộc bị đơn ông Ngô S phải trả cho bà Lê Kiều N số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Lê Kiều T về việc buộc ông Ngô Sơn T1 cho bà T số tiền 100.000.000 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Ngô S phải chịu 5.000.000 đồng. Nguyên đơn không phải nộp án phí, ngày 02/4/2025 nguyên đơn đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019345 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được trả lại cho nguyên đơn.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ông Thái Hoàng Đắc |
Bản án số 132/2025/DS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 132/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Lê Kiều Nhanh yêu cầu yêu cầu ông NgôSơn trả lại số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng
