TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 132/2025/DS-ST
Ngày: 10/6/2025
Vụ án: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thanh Đào
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Trần Ngọc Bích
2. Bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Bích Trâm– Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 864/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 469/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N. Địa chỉ: số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Phạm Toàn V – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: bà Nguyễn Trương Phương T – Chức vụ: Nhân viên pháp chế thuộc Phòng Tổng hợp. Địa chỉ: số H N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Theo văn bản ủy quyền ngày 06/01/2025.
- Bị đơn: 1. Ông Lê Hoàng Phú Q, sinh năm: 1992.
2. Bà Nguyễn Thị Lâm S, sinh năm 1993
Cùng địa chỉ: số A T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Hoàng T1, sinh năm 1969. Địa chỉ: số A T, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ.
2. Bà Lê Thị Ú, sinh năm: /. Cùng địa chỉ ông Lê Hoàng T1.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/8/2024 và đại diện ủy quyền nguyên đơn trình bày:
Nguyên đơn là Ngân hàng N có cho bị đơn ông Lê Hoàng Phú Q, Nguyễn Thị Lâm S vay Hợp đồng tín dụng số: 1890-LAV-202200793 ngày 28/6/2022, Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 28/6/2022, bị đơn vay số tiền là 1.300.000.000 đồng theo thời hạn vay là 120 tháng, lãi suất 10,5%/năm, mục đích vay: nâng cấp sửa chữa quán ăn, chi phí lưu động. Bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thế chấp:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 26/25092018.92.UQ/TC ngày 25/9/2018, Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 26092019.17/PLHĐ ngày 26/9/2019, Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 30102020.17/PLHĐ 02 ngày 30/10/2020, Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 23042021.17/PLHĐ 03 ngày 23/4/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 01/280622.76/HĐBS ngày 28/6/2022. Phần đất thế chấp tại thửa số 100, tờ bản đồ số 44, diện tích 171,9m² (đất trồng cây lâu năm), phần đất tọa lạc tại đường T, khu V, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 155012 (số vào số cấp GCN: CS09334) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 27/8/2018 do ông Lê Hoàng Phú Q đứng tên.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 26/25092018.92.UQ/TC ngày 25/9/2018 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 02/280622.76/HĐBS ngày 28/6/2022. Phần đất thế chấp tại thửa số 69, tờ bản đồ số 44, diện tích 96m² (đất trồng cây lâu năm), phần đất tọa lạc tại đường T, khu V, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 527197 (số vào sổ cấp GCN: CH 05046) do Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 18/9/2014 do ông Lê Hoàng T1 đứng tên.
Tổng cộng nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 27/02/2025 là 1.739.582.540 đồng (trong đó nợ gốc là 1.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 394.345.205 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.654.521 đồng, lãi chậm trả là 43.582.814 đồng), cùng với lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số: 1890-LAV-202200793 ngày 28/6/2022, Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định
kỳ hạn trả nợ ngày 28/6/2022. Trong trường hợp bị đơn không trả nợ, nguyên đơn yêu cầu phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp mà các bên đã ký.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tống đạt hợp lệ đối với bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Q, bà S, ông T1, bà Ú đều vắng mặt không lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 10/6/2025 là 1.781.046.335 đồng (trong đó nợ gốc là 1.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 427.254.795 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.034.247 đồng, lãi chậm trả là 51.757.293 đồng), cùng với lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số: 1890-LAV-202200793 ngày 28/6/2022, Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 28/6/2022. Trong trường hợp bị đơn không trả nợ, nguyên đơn yêu cầu phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp mà các bên đã ký.
Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Các bên tranh chấp từ khoản tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng được ký kết. Bị đơn bà T có địa chỉ tại quận N, thành phố Cần Thơ nên Toà án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và xác định tranh chấp hợp đồng tín dụng là đúng quan hệ tranh chấp.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ việc theo quy định, tại phiên tòa bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không thể công nhận sự thỏa thuận của các đương sự do đó Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Về nội dung: Theo đơn khởi kiện ngày 01/8/2024 của nguyên đơn Ngân hàng N, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn. Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tổng số nợ tính đến ngày 10/6/2025 cụ thể như sau: Bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền vốn và lãi là 1.781.046.335 đồng (trong đó nợ gốc là 1.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 427.254.795 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.034.247 đồng, lãi chậm trả là 51.757.293 đồng), cùng với lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số:
1890-LAV-202200793 ngày 28/6/2022, Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 28/6/2022. Trong trường hợp bị đơn không trả nợ, nguyên đơn yêu cầu phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp mà các bên đã ký.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bị đơn đã vi phạm quy định các quy định của hợp đồng tín dụng, vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Xét hình thức các giao dịch đều được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, căn cứ vào những thỏa thuận trong các hợp đồng, giao dịch của các bên, căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 10/6/2025 là 1.781.046.335 đồng (trong đó nợ gốc là 1.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 427.254.795 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.034.247 đồng, lãi chậm trả là 51.757.293 đồng), cùng với lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số: 1890-LAV-202200793 ngày 28/6/2022, Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 28/6/2022. Trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ thì nguyên đơn có quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 155012 (số vào sổ cấp GCN: CS09334) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 27/8/2018 do ông Lê Hoàng Phú Q đứng tên và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 527197 (số vào sổ cấp GCN: CH 05046) do Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 18/9/2014 do ông Lê Hoàng T1 đứng tên để thu hồi nợ cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng N yêu cầu bị đơn là bà Nguyễn Thị Lâm S, ông Lê Hoàng Phú Q trả số tiền nợ vay theo hợp đồng các bên đã ký kết nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Lê Hoàng Phú Q1, bà Nguyễn Thị Lâm S, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng T1, bà Lê Thị Ú được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét hợp đồng Hợp đồng tín dụng số: 1890-LAV-202200793 ngày 28/6/2022, Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 28/6/2022, bị đơn vay số tiền là 1.300.000.000 đồng theo thời hạn vay là 120 tháng, lãi suất 10,5%, mua đích vay: nâng cấp sửa chữa quán ăn, chi phí lưu động. Khi bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thế chấp phần đất tại thửa số 100, tờ bản đồ số 44, diện tích 171,9m² (đất trồng cây lâu năm), phần đất tọa lạc tại đường T, khu V, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 155012 (số vào sổ cấp GCN: CS09334) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 27/8/2018 do ông Lê Hoàng Phú Q đứng tên và phần đất tại thửa số 69, tờ bản đồ số 44, diện tích 96m² (đất trồng cây lâu năm), phần đất tọa lạc tại đường T, khu V, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 527197 (số vào sổ cấp GCN: CH 05046) do Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 18/9/2014 do ông Lê Hoàng T1 đứng tên.
Đến ngày 28/6/2022 bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 10/6/2025 là 1.781.046.335 đồng (trong đó nợ gốc là 1.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 427.254.795 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.034.247 đồng, lãi chậm trả là 51.757.293 đồng), cùng với lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số: 1890-LAV-202200793 ngày 28/6/2022, Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 28/6/2022.
Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng được ký kết bởi người đại diện theo pháp luật của hai bên. Thỏa thuận giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng. Vì vậy hợp đồng là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên các bên đều phải có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng. Ngân hàng đã thực hiện đúng các thỏa thuận tại hợp đồng. Về số tiền nợ gốc, căn cứ vào chứng từ do Ngân hàng cung cấp cũng như ý kiến của người đại diện của nguyên đơn. Về số tiền lãi: Mức lãi suất các bên thỏa thuận theo phương thức lãi suất biến động, lãi tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng số: 1890-LAV-202200793 ngày 28/6/2022, Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 28/6/2022 là 10,5%/năm các mức lãi suất được điều chỉnh cũng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng đã xâm phạm đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ các khoản nợ gốc và lãi là có cơ sở. Căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền vốn và lãi tính đến ngày 10/6/2025 là 1.781.046.335 đồng (trong đó nợ gốc là 1.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 427.254.795 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.034.247 đồng, lãi chậm trả là 51.757.293 đồng), cùng với lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số: 1890-LAV-202200793 ngày 28/6/2022, Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 28/6/2022.
Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ của nguyên đơn:
Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 26/25092018.92.UQ/TC ngày 25/9/2018, Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 26092019.17/PLHĐ ngày 26/9/2019, Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 30102020.17/PLHĐ 02 ngày 30/10/2020, Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 23042021.17/PLHĐ 03 ngày 23/4/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 01/280622.76/HĐBS ngày 28/6/2022. Phần đất thế chấp tại thửa số 100, tờ bản đồ số 44, diện tích 171,9m² (đất trồng cây lâu năm), phần đất tọa lạc tại đường T, khu V, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 155012 (số vào sổ cấp GCN: CS09334) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 27/8/2018 do ông Lê Hoàng Phú Q đứng tên.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 26/25092018.92.UQ/TC ngày 25/9/2018 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 02/280622.76/HĐBS ngày 28/6/2022. Phần đất thế chấp tại thửa số 69, tờ bản đồ số 44, diện tích 96m² (đất trồng cây lâu năm), phần đất tọa lạc tại đường T, khu V, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 527197 (số vào sổ cấp GCN: CH 05046) do Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 18/9/2014 do ông Lê Hoàng T1 đứng tên.
Các hợp đồng thế chấp nêu trên giữa bên thế chấp là bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người đại diện có thẩm quyền của ngân hàng. Tài sản thế chấp phần đất tại đường T, khu V, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ thuộc sở hữu hợp pháp của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, các bên ký hợp đồng thế chấp trên tinh thần tự nguyện. Hợp đồng được chứng thực tại Văn phòng công chứng, Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng C ngày 25/9/2018. Như vậy hợp đồng thế chấp tài sản đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về cả hình thức và nội dung hợp đồng theo quy định tại Điều 117 và Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực pháp luật. Buộc các bên phải thực hiện theo những điều khoản đã thỏa thuận tại hợp đồng mà các bên đã ký kết.
Do đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận buộc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số nợ nêu trên là hoàn toàn có cơ sở.
[4]. Về chi phí tố tụng: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu số tiền tạm ứng thẩm định là 5.000.000 đồng. Nguyên đơn đã tạm ứng và cho xong. Bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả số tiền chi phí 5.000.000 đồng cho phía nguyên đơn.
[5]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 466, và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng;
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng N.
Về khoản nợ: Buộc bà Nguyễn Thị Lâm S, ông Lê Hoàng Phú Q phải trả cho Ngân hàng N số tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 10/6/2025 là 1.781.046.335 đồng (trong đó nợ gốc là 1.300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 427.254.795 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.034.247 đồng, lãi chậm trả là 51.757.293 đồng)
Kể từ ngày 11/6/2025 bị đơn còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi phát sinh trên số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng số: 1890-LAV-202200793 ngày 28/6/2022, Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 28/6/2022 đến khi thanh toán hết nợ cho nguyên đơn.
Về xử lý tài sản thế chấp: Khi bản án có hiệu lực pháp luật mà bị đơn không thực hiện được đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi thì nguyên đơn có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý, đấu giá, phát mãi theo quy định của pháp luật đối với tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi các khoản nợ nguyên đơn:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: C1 (số vào sổ cấp GCN: CS09334) do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 27/8/2018 do Lê Hoàng Phú Q đứng tên (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 26/25092018.92.UQ/TC ngày 25/9/2018, Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 26092019.17/PLHĐ ngày 26/9/2019, Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 30102020.17/PLHĐ 02 ngày 30/10/2020, Phụ lục
hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 23042021.17/PLHĐ 03 ngày 23/4/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 01/280622.76/HĐBS ngày 28/6/2022);
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 527197 (số vào sổ cấp GCN: CH 05046) do Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 18/9/2014 do ông Lê Hoàng T1 đứng tên (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 26/25092018.92.UQ/TC ngày 25/9/2018 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 02/280622.76/HĐBS ngày 28/6/2022);
Thời gian và cách trả do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ quy định.
[2]. Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu số tiền chi phí thẩm định là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Nguyên đơn đã tạm ứng và chi xong. Bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 5.000.000 (Năm triệu đồng) đồng cho phía nguyên đơn.
[3]. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Lâm S, ông Lê Hoàng Phú Q phải chịu số tiền án phí là 65.431.390 đồng (Sáu mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn ba trăm chín chục đồng). Ngân hàng N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 30.458.000 đồng (Ba mươi triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002180 ngày 21/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
*Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Từ Thanh Đào |
Bản án số 132/2025/DS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 132/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thônViệt Nam.
