|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2025/DS-PT Ngày: 06-3-2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng;
<p style="text-align: justify; margin: 0 0 5pt 0;">
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Nguyên đơn bà Mai Thị N cho rằng thửa đất số 232 do nguyên đơn quản lý, sử dụng từ trước đến nay, bị đơn ông Nguyễn Hồng V không quản lý sử dụng thửa đất này nhưng lại được cấp GCNQSDĐ và đến năm 2020 xây dựng tường rào bao quanh thửa đất này thì phát sinh tranh chấp. Do đó, bà N khởi kiện yêu cầu ông V tháo dỡ hàng gạch để trả lại cho nguyên đơn thửa đất 232, diện tích đo đạc thực tế là 227m².
[2.2] Về nguồn gốc đất tranh chấp: nguyên đơn bà N và người làm chứng ông Nguyễn Thái T3 cho rằng thửa đất số 232 có nguồn gốc do mẹ của ông T3 là bà Mai Thị M chuyển nhượng cho bà N nhưng không có giấy tờ chứng minh việc chuyển nhượng đất, bị đơn không thừa nhận. Tại văn bản trả lời của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T xác định hồ sơ cấp đất lần đầu cho hộ ông Nguyễn Văn Đ1 đã bị thất lạc, không thể cung cấp cho Tòa án nên không có cơ sở xác định thửa đất này nguồn gốc ông Đ1 do đâu mà có, phù hợp với ý kiến trình bày của người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố T và ý kiến xác minh của Tòa án tại Ủy ban nhân dân phường K, thành phố T về việc xác minh nguồn gốc đất tranh chấp.
[2.3] Việc đăng ký, kê khai xin cấp GCNQSDĐ: Theo hồ sơ cấp đất lần đầu của hộ ông Nguyễn Văn R, ông R không đăng ký, kê khai đối với thửa đất số 232, được nguyên đơn thừa nhận. Theo hồ sơ cấp đất của ông Nguyễn Hồng V thể hiện thửa đất 232 ông V nhận thừa kế từ ông Nguyễn Văn Đ1. Tại biên bản xác minh của Tòa án tại Ủy ban nhân dân phường K xác định Nguyễn Văn Đ1 là người đăng ký, kê khai xin cấp GCNQSDĐ lần đầu đối với thửa đất này, thời điểm đăng ký, kê khai xin cấp GCNQSDĐ và sau đó tặng cho ông Nguyễn Hồng V không có ai tranh chấp. Như vậy, có cơ sơ xác định ông Nguyễn Văn Đ1 là người đăng ký, kê khai đối với thửa đất tranh chấp, gia đình nguyên đơn không ai đăng ký, kê khai và GCNQSDĐ số CH01267 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Nguyễn Hồng V ngày 11/11/2010 trên cơ sở nhận thừa kế từ ông Nguyễn Văn Đ1.
[2.4] Về quá trình quản lý, sử dụng đất: theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/12/2023 của Tòa án trên đất tranh chấp không có tài sản gì, tại các cạnh hướng Nam, hướng Đ, hướng Tây giáp bức tường xây tô do ông V xây dựng vào tháng 4/2020. Tại biên bản xác minh của Tòa án tại Ủy ban nhân dân phường K xác định gia đình bà N là người quản lý, sử dụng thửa đất tranh chấp từ trước đến thời điểm ông V xây dựng tường rào vào năm 2020 thì hai bên phát sinh tranh chấp, phù hợp với lời khai của những người làm chứng đều xác định đất tranh chấp do gia đình nguyên đơn quản lý, sử dụng từ trước đến nay. Lời khai của bị đơn trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn cho rằng sau khi ông V được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 232, ông V cho nguyên đơn mượn trồng lúa, nguyên đơn không thừa nhận, bị đơn cũng không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của bị đơn là có căn cứ. Như vậy có cơ sở xác định thửa đất 232 tiếp giáp với các thửa đất số 287, 289 mà nguyên đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình nguyên đơn là người quản lý, sử dụng đất từ trước đến nay.
[2.5] Đồng thời, tại biên bản làm việc của Tòa án tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T xác định việc cấp đất cho ông Nguyễn Hồng V vào ngày 11/11/2010 là không qua đo đạc thực tế. Như vậy, có cơ sở khẳng định hộ ông Nguyễn Văn Đ1, sau đó là ông Nguyễn Hồng V được cấp GCNQSDĐ nhưng thực tế không quản lý, sử dụng thửa đất này. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ
[3] Bị đơn ông Nguyễn Hồng V kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm nhưng tại cấp phúc thẩm cũng không cung cấp được chứng cứ mới nên không có căn cứ chấp nhận.
[4] Ý kiến của người bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là không phù hợp.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Hồng V phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hồng V.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2024/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Về chi phí tố tụng: bị đơn ông Nguyễn Hồng V phải chịu 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), đã thực hiện xong.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Hồng V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí phúc thẩm số 0000370 ngày 07/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Dũng |
Bản án số 132/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 132/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông V trả lại cho gia đình bà diện tích đất đã lấn chiếm khoảng 227m2 theo Mảnh trích lục địa chính (có đo đạc chỉnh lý) số 41-2024 ngày 17/01/2024 thuộc thửa 232, tở bản đồ số 48 và yêu cầu ông V tháo dỡ hàng rào gạch đã xây dựng lấn chiếm qua đất của bà, đồng thời kiến nghị UBND thành phố T thu GCNQSDĐ đối với thửa 232, tờ bản đồ số 48 cấp cho ông V. Xét về nguồn gốc đất tranh chấp, việc đăng ký, kê khai xin cấp GCNQSDĐ và quá trình quản lý, sử dụng đất, có cơ sở cho thấy ông V được cấp GCNQSDĐ nhưng không thực tế quản lý, sử dụng đất này. Do đó, kháng cáo của ông V là không có cơ sở chấp nhận, Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm.
