Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 132/2025/DS-PT

Ngày: 10/4/2025

V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hương

Các Thẩm phán: Bà Hà Thị Thanh Nữ

Bà Đào Thị Kiều Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Phùng Đức Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 282/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do Bản án sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 90/2025/QĐXX-PT ngày 13 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 182/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Tuyết H, sinh năm 1964.
  • Địa chỉ thường trú: Ấp C, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  • Địa chỉ liên lạc: 28D/44 khu phố H, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phùng Quốc D, sinh năm 1979. Địa chỉ: B khu phố H, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • - Bị đơn: Ông Vũ Xuân L, sinh năm 1981 và bà Trần Thị T, sinh năm: 1984.
  • Địa chỉ: E Hồ N, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Nhật Minh C, sinh năm 1997. Địa chỉ: khu phố N, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L, bà T: Luật sư Lâm Văn G thuộc Công ty L1 – chi nhánh thành phố L.

(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn

có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/12/2023, đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện ngày 18/12/2023, các bản tự khai, biên bản lấy lời khai cũng như tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn anh Phùng Quốc Dũng trình bày:

Bị đơn là em con cô, cậu với nguyên đơn. Vào năm 2004, do có nhu cầu mua đất nên nguyên đơn bà Thạch Thị Tuyết Hồng đã nhờ người em họ là Vũ Đức Hiếu thay mặt nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc thanh toán tiền chuyển nhượng đất bằng tiền của nguyên đơn.

Tháng 11/2004, ông Hiếu đã mua giúp cho nguyên đơn thửa đất số 45, tờ bản đồ 04 xã Bảo Quang của ông Trần Đông, bà Nguyễn Thị Biên và vợ chồng ông Hiếu, bà Hạnh là người trực tiếp canh tác, quản lý thửa đất cho nguyên đơn, nguyên đơn cũng cho vợ chồng hưởng hoa lợi, lợi tức từ thửa đất. Toàn bộ việc sang nhượng đất đều do ông Hiếu thực hiện. Đến năm 2016 ông Hiếu bệnh chết, ông Vũ Xuân Lộc là em ruột ông Hiếu, em họ của nguyên đơn đã đề nghị nguyên đơn để cho ông Lộc đứng ra quản lý thay vì vợ ông Hiếu chỉ là cháu dâu, khi nào nguyên đơn có nhu cầu thực hiện các giao dịch liên quan đến phần diện tích đất nói trên thì ông Lộc cam kết sẽ thực hiện cho tôi mà không có bất kỳ yêu cầu nào khác. Do tin tưởng ông Lộc là người nhà nên tôi đã thống nhất đồng ý cho ông thay tôi đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2020 thửa đất được sang tên cho ông Vũ Xuân Lộc.

Tuy nhiên sau đó lợi dụng việc nguyên đơn đi điều trị bệnh, vợ chồng ông Lộc, bà Tích đã chuyển nhượng thửa đất trên cho người khác mà không hề báo cho nguyên đơn biết. Sau khi nguyên đơn được người thân trong gia đình báo lại, nguyên đơn hỏi thì vợ chồng ông Lộc thừa nhận đã chuyển nhượng thửa đất trên với giá 14 tỷ đồng.

Tại đơn khởi kiện trước đây nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại thửa đất trên nhưng quá trình làm việc thì biết được thửa đất trên bị đơn đã chuyển nhượng cho người khác và tách thửa cho nhiều người, nên nguyên đơn thay đổi ý kiến, yêu cầu bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền đã chiếm dụng từ việc bán thửa đất của nguyên đơn, không yêu cầu phải trả lại đất.

Đối với chi phí tố tụng đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai cũng như tại phiên tòa, đồng bị đơn anh Vũ Xuân Lộc, chị Trần Thị Tích trình bày:

Bị đơn là em con cô, cậu của nguyên đơn, bị đơn không đứng tên dùm nguyên đơn mà nguồn gốc thửa đất 45, tờ bản đồ 04 xã Bảo Quang là do bị đơn nhận chuyển nhượng của nguyên đơn chị Hồng vào khoảng năm 2017, 2018 với giá 1,5 tỷ đồng. Khi mua chỉ thỏa thuận miệng chứ không lập hợp đồng chuyển nhượng. Sau khi mua bị đơn đã trả đủ tiền cho chị Hồng bằng cách cấn nợ số tiền 01 tỷ đồng mà chị Hồng hứa cho khi bị đơn bán dùm cho chị một thửa đất, còn 500.000.000 đồng thì bị đơn đưa cho chị Hồng 300.000.000 đồng tiền mặt và cấn trừ 200.000.000 đồng đã chi cho chị Hồng tiêu xài trước đó khi về Việt Nam. Bị đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì thửa đất trên đã mua, bị đơn muốn bán cho ai là quyền của bị đơn.

* Tại Bản án sơ thẩm số: 46/2024/DS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh đã áp dụng các Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án xử:

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – chị Thạch Thị Tuyết Hồng: Buộc bị đơn anh Vũ Xuân Lộc, chị Trần Thị Tích phải trả cho chị Thạch Thị Tuyết Hồng số tiền 14.000.000.000 (mười bốn tỷ) đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 1/8/2024 bị đơn có đơn kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quan điểm của Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền là 07 tỷ, bị đơn đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

HẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bị đơn ông Vũ Xuân Lộc và bà Trần Thị Tích làm đơn kháng cáo trong thời hạn và đóng tạm ứng án phí theo quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo:

Theo bà Thạch Thị Tuyết Hồng cho rằng thửa đất trên là của bà mua vào năm 2004, do chưa có nhu cầu đứng tên đất nên nhờ vợ chồng ông Vũ Đức Hiếu, bà Huỳnh Thị Hạnh mua giúp, mua bằng giấy viết tay với giá 18 lượng vàng 24K, nhận tiền trực tiếp từ anh Hiếu. Tiền vàng do bà Hồng đưa ông Hiếu để giao cho bà Tuyến, sau đó để bà Hạnh, ông Hiếu canh tác. Chưa kịp sang tên thì ông Hiếu chết nên gia đình bà Hồng, gồm cả ông Lộc có họp lại và để ông Lộc đứng tên trên giấy tờ đất, còn việc quản lý, sử dụng vẫn do chị Hạnh, các con chị Hạnh canh tác trên đất.

Về nội dung này có những người trong gia đình bà Hồng làm chứng, xác nhận sự thật như bà Huỳnh Thị Hạnh, ông Trần Đông, chủ cũ bán đất bà Nguyễn Thị Tuyến.

Bị đơn ông Vũ Xuân Lộc cũng thừa nhận khi nguyên đơn mua đất đã nhờ anh trai của bị đơn là Vũ Đức Hiếu thực hiện việc mua bán và canh tác thửa đất. Bị đơn thừa nhận không nhận chuyển nhượng đất từ bà Nguyễn Thị Tuyến mà do có việc nhầm thửa nên giữa bà Tuyến và bị đơn ký hợp đồng chuyển nhượng đất nhằm mục đích hợp thức hóa để sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn.

Như vậy, các đương sự gồm nguyên đơn, bị đơn và những người làm chứng như chị Vũ Thị Tươi, anh Vũ Đức Thành, Vũ Đức Hạnh, Vũ Thị Kim Loan, là anh chị em ruột của bị đơn đều khẳng định thửa đất trên là do anh Vũ Đức Hiếu mua giúp cho nguyên đơn, sau khi anh Hiếu chết thì bị đơn ông Lộc là người đề xuất với nguyên đơn về việc sẽ đứng tên và giữ giúp thửa đất này cho nguyên đơn, còn việc nguyên đơn có chuyển nhượng cho bị đơn không thì không ai biết.

Đối với nội dung kháng cáo của ông Vũ Xuân Lộc và lời khai nại tại Tòa. Ông Lộc cho rằng thửa đất số 45, tờ bản đồ 04 xã Bảo Quang đã được ông mua của bà Hồng với giá 1,5 tỷ đồng gồm cấn nợ số tiền 01 tỷ đồng mà chị Hồng hứa cho khi bị đơn bán dùm cho chị một thửa đất, còn 500.000.000 đồng thì bị đơn đưa cho chị Hồng 300.000.000 đồng tiền mặt và cấn trừ 200.000.000 đồng đã chi cho chị Hồng tiêu xài trước đó khi về Việt Nam. Tuy nhiên, các khoản này không được nguyên đơn thừa nhận, ông Lộc không cung cấp được giấy tờ chứng minh việc mua bán và giao tiền vì là chỗ chị em, việc mua bán cũng không ai chứng kiến nên không có cơ sở xem xét.

Mặt khác, tại cơ quan điều tra công an TP Long Khánh (BL số 144), ông Vũ Xuân Lộc có khai: ông thấy ông Vũ Đức Thành (anh trai ông Lộc) đưa cho sổ đất mà ông nghe ông Thành nói lại là của bà Hồng mua nhờ đứng tên dùm. Sau đó, ông chỉ biết ký vào hồ sơ để đứng tên còn thủ tục khác ông không làm. Đến năm 2020 thì được cấp giấy CNQSDĐ đứng tên ông Lộc, còn thửa đất trên ông không quản lý. Sau đó đến năn 2022 thì ông bán đất cho một người ở TP Hồ Chí Minh (bà Nguyễn Thị Rơi) được 14.000.000.000đ.

Như vậy, có cơ sở để xác định thửa đất số 45, tờ bản đồ 04 xã Bảo Quang là của bà Thạch Thị Tuyết Hồng, nhờ ông Vũ Xuân Lộc đứng tên trên giấy CNQSDĐ. Việc ông Lộc tự ý chuyển nhượng cho người khác, nhận tiền là có thật, do đó Tòa án sơ thẩm tuyên buộc ông Lộc phải hoàn trả lại cho bà Hồng số tiền 14.000.000.000đ là phù hợp, có căn cứ.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền là 07 tỷ, bị đơn đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3] Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên án phí được tính lại như sau:

Anh Vũ Xuân Lộc, chị Trần Thị Tích phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là (112.000.0000đ + 0,1% x 3.000.000.0xxxđ) = 115.000.000 (Một trăm mười lăm triệu đồng).

Do kháng cáo được chấp nhận một phần, nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Ý kiến của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Vũ Xuân Lộc và bà Trần Thị Tích.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh theo sự thỏa thuận của các bên.

Áp dụng các Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án xử:

Tuyên xử:

  1. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự: Bị đơn ông Vũ Xuân Lộc, bà Trần Thị Tích phải trả cho bà Thạch Thị Tuyết Hồng số tiền 7.000.000.000 (bảy) tỷ đồng.
  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền phải thanh toán, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS tương ứng với thời gian chậm trả.

  3. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Vũ Xuân Lộc, chị Trần Thị Tích phải trả lại cho chị Thạch Thị Tuyết Hồng số tiền 10.000.000 đồng.
  4. Về án phí:
  5. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Vũ Xuân Lộc, chị Trần Thị Tích phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 115.000.000 (Một trăm mười lăm triệu đồng).

    Hoàn lại cho bà Thạch Thị Tuyết Hồng số tiền 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Hồng đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004795 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án thành phố Long Khánh.

    Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Vũ Xuân Lộc, bà Trần Thị Tích không phải chịu. Hoàn trả án phí dân sự phúc thẩm cho ông Lộc, bà Tích 300.000đ theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 05723 ngày 09/10/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND TP.Long Khánh;
  • - Chi cục THADS TP.Long Khánh
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2025/DS-PT ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 132/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger