Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Số 132/2025/DS – PT

Ngày 04-03-2025

“V/v Đòi tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Minh Hoàng.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tâm;

Bà Trần Thị Diệp Linh.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Lan – Thư ký Tòa án.

Đại diện VKSND Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Sơn C - Kiểm sát viên.

Ngày 04/3/2025, tại trụ sở TAND Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 329/2024/TLPT-DS ngày 10/10/2024 về: “Đòi tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 124/2024/DS-ST ngày 11/7/2024 của TAND huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 60/2025/QĐXX-PT ngày 10/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa và Thông báo mở lại phiên tòa của TAND Thành phố Hà Nội. Giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1954. Người đại diện ủy quyền của ông Đ: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1961. Cùng HKTT: Xóm E, thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội. Cùng có mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Bá L - Công ty L1, Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt.

  2. Bị đơn:

    1. Ông Nguyễn Văn Ư, sinh năm 1963;

    2. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1961.

    Đều có HKTT: Xóm G, thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội. Cùng có mặt.

    Người đại diện theo uỷ quyền của ông S: Văn phòng L2 - Đoàn Luật sư Thành phố H. Người nhận ủy quyền là ông Đậu Xuân T.

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông S: Các Luật sư Đoàn Viết N1, Phạm Ngọc T1 - Văn phòng L2 thuộc đoàn Luật sư Thành phố H. Cùng có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Hợp tác xã N2. Địa chỉ: Xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật là ông Lê Văn B- Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).

    2. UBND xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Xã A, huyện M, Hà Nội. Đại diện theo pháp luật là Chủ tịch UBND xã A. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).

    3. UBND huyện M, Thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Thị trấn Đ, huyện M, Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Chủ tịch UBND huyện M. Vắng mặt.

  4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Ư, ông Nguyễn Văn S là bị đơn. Cùng có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án, tại cấp sơ thẩm.

  1. Nguyên đơn -ông Đ và đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:

    Năm 1990, ông Đ nhận chuyển nhượng lại đất thổ cư của cụ Nguyễn Văn H ở thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội khoảng một sào bắc bộ với số tiền 1.450.000 đồng, theo Văn bản nhượng lại đất thổ cư ngày 04/3/1990 có chữ ký của cụ H và xác nhận UBND xã A. Hiện nay thửa đất này là thửa số 278, tờ bản đồ số 5, diện tích 354m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Năm 1992 thực hiện chủ trương của Đảng ủy và chính quyền địa phương xã A về việc tận dụng đất thùng đào, thùng đấu ven đường giao thông trong khu vực dân cư để giao cho các hộ liền kề. Ngày 20/9/1992 ông Đ được UBND xã A kết hợp với Hợp tác xã nông nghiệp kinh doanh tổng hợp giao 72m² đất Ao. Cụ thể các cạnh: Phía Đông dài: 12m, giáp: Đính (đất anh Đ); phía Tây dài: 12m, giáp: Đường trục huyện; phía Nam dài: 06m, giáp: Xóm làng; phía Bắc dài: 06m, giáp: Anh S. Theo Biên bản giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 và phiếu thu tiền ngày 23/9/1992.

    Khoảng năm 2004, ông S đã tự ý phá bờ rào, đổ đất trồng cây để làm ngõ đi vào phần đất nhà ông S và năm 2014, ông Ư tự xây dựng lán tạm khoảng 40m² (để đựng máy gặt lúa, máy cày ) trên phần đất 72m² mà ông Đ mua của UBND xã A.

    Nay ông Đ yêu cầu ông Ư và ông S phải tháo dỡ toàn bộ lán tạm, tường rào, các cây và di chuyển ra khỏi thửa đất để trả lại cho ông Đ 72m² đất mà ông Đ đã mua, được giao theo Biên bản giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 và phiếu thu tiền ngày 23/9/1992.

  2. Bị đơn:

    1. Ông Nguyễn Văn S trình bày: Trước năm 2013, ông S có đổ đất và xây ngõ đi trên phần đất mà ông Đ mua của UBND xã A để làm lối đi vào thửa đất của gia đình ông. Hiện nay một phần đất này ông Ư đã xây dựng lán tạm làm nhà để máy cày, máy cắt lúa; còn một phần ông S trồng cây, xây một đoạn tường rào để chăn nuôi gia cầm. Nay ông Đ yêu cầu ông S phải tháo dỡ và di chuyển bức tường rào, ông S đồng ý tháo dỡ và di chuyển để trả lại đất cho ông Đ. Đối với phần đất mà ông S đã đổ trên phần của ông Đ đã mua của UBND xã A để làm lối đi vào nhà ông S, ông S không yêu cầu Tòa giải quyết, để ông S và ông Đ tự thỏa thuận với nhau.

    2. Ông Nguyễn Văn Ư trình bày: Năm 2014, ông Ư có xây dựng 01 nhà tạm (Tường ba vanh xung quanh, quây tôn, lợp mái tôn để máy cày, máy cắt lúa, một số đồ dùng) trên phần đất mà hiện nay ông Đ đang khởi kiện đòi. Theo ông Ư: Phần đất này là của bố, mẹ ông (cụ Nguyễn Văn H, cụ Trần Thị P, đều đã chết) để lại chưa chuyển nhượng. Nay ông Đ yêu cầu ông Ư phải trả tháo dỡ toàn bộ lán tạm, di chuyển toàn bộ vật liệu xây dựng và các tài sản trên trên lán tạm để trả lại phần đất cho ông Đ, ông Ư không chấp nhận.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Hợp tác xã N2 và UBND xã A trình bày:

      Thực hiện chủ trương của UBND huyện M về việc giao đất kinh doanh dịch vụ cho hộ gia đình cá nhân. Năm 1992 UBND xã A chỉ đạo Hợp tác xã kinh doanh tổng hợp xã N2 (nay là Hợp tác xã N2) tổ chức giao đất có thu tiền cho ông Đ với diện tích 72m² (kích thước, tứ cận như nguyên đơn trình bày). Hiện phần đất 72m² đất này nằm trong thửa đất số 279, tờ bản đồ số 05, đo đạc năm 2000, diện tích 174m². Trong đó có 72m² đất là đất do UBND xã A giao cho ông Đ (đất kinh doanh dịch vụ năm 1992), còn lại 102m² đất là đất hành lang giao thông đường 419.

      Quan điểm của UBND xã A và Hợp tác xã N2: Toàn bộ diện tích đất 174m² đất giáp đất ông Đ là đất C1; trong đó năm 1992, UBND xã có giao 72m² đất kinh doanh dịch vụ cho ông Đ giáp đất ông Đ (trong 72m² đất này thì năm 2004 ông S đã đổ đất trên diện tích khoảng 26m² xây ngõ đi vào thửa đất của gia đình ông S) và 102 m² thuộc đất công. Đề nghị Tòa án xem xét buộc ông Ư và ông S phải tháo dỡ di dời toàn bộ công trình, cây cối trên diện tích 72m² đất trả lại ông Đ.

    2. UBND huyện M:

      Tại Công văn số 460/TNMT ngày 06/6/2024, về việc cung cấp thông tin hồ sơ, tài liệu của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M có ý kiến: Căn cứ vào Điều 100 Luật đất đai năm 2013; Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ – CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, thì Biên bản bàn giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 và phiếu thu tiền ngày 23/9/1992 là một trong các loại giấy tờ chứng minh về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất. Tuy nhiên để chứng minh diện tích đất giao thuộc quản lý, sử dụng của ông Đ hay không đề nghị Tòa án liên hệ với UBND xã A để được biết.

      Tại biên bản định giá tài sản ngày 21/5/2024, Hội đồng định giá kết luận:

      Do thửa đất là thửa đất phi nông nghiệp khác chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên căn cứ Quyết định số 30/2019/QĐ – UBND ngày 31/12/2019 của UBND Thành phố H nên Hội đồng định giá chưa có cơ sở định giá.

      • 01 nhà tạm, dịện tích 38,7m²: Do ông Ư không yêu cầu định giá, nên Hội đồng định giá không tiến hành định giá. Bức tường con kiến, cao 2m, dài 2m, xây dựng năm 2014, đã hết khấu hao (theo quy định là 10 năm) nên Hội đồng định giá không tiến hành định giá. 01 cây sấu có giá trị là 252.000 đồng; 01 cây sung: Do cây sung bị chặt ngang cây, nên Hội đồng định giá không tiến hành định giá; 01 cây mít có giá là 44.100 đồng; 01 chuồng gà đã đổ nát, xây khoảng năm 2010: Do đã khấu hao theo quy định, nên Hội đồng định giá không tiến hành định giá.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn trình bày: Việc ông S chiếm dụng đất của ông Đ làm ngõ đi và việc sau đó ông Ư xây dựng nhà kho trên đất của ông Đ đã được UBND xã A, Phòng T và Đội thanh tra xây dựng huyện M xử lý, kết luận cụ thể, rõ ràng. Tuy nhiên ông S và ông Ư đã cố tình không thực hiện việc trả lại đất cho ông Đ. Đề nghị buộc: Ông Ưu phá dỡ công trình đã xây trên phần đất để trả lại đất cho ông Đ. Buộc ông S di dời cây cối, hoa màu, chuồng gà đổ nát, bức tường xây để trả lại đất cho ông Đ.

Bị đơn:

Ông S trình bày: Đề nghị tạm ngừng phiên tòa.

Ông U trình bày: Ông Ư không biết ông Đ kiện ông về nội dung gì, căn cứ giấy tờ nào, ông Ư không được nhận giấy tờ gì, ông Ư không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ vì đất ông Ư đang sử dụng, xây lán tạm là của bố, mẹ đẻ ông Ư để lại.

Đại diện VKSND huyện Mỹ Đức phát biểu: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đ. Buộc ông S phải phá dỡ và di chuyển: Bức tường xây; 01 cây sấu đã bị chặt ngọn, 01 cây sung đã bị chặt ngang cây, 01 cây mít, 01 chuồng gà đã bị đổ nát; Buộc ông Ư phải phá dỡ, di dời: 01 nhà tạm và toàn bộ các tài sản trên đất nằm trong 72m² đất, tại thửa đất số 279, tờ bản đồ số 05.

Bản án dân sự sơ thẩm số 124/2024/DS-ST ngày 11/7/2024 của TAND huyện Mỹ Đức, Hà Nội. QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đ đối với ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn Ư.

    • - Xác định ông Trần Văn Đ có quyền sử dụng 72m² đất, nằm trong thửa đất số 279, tờ bản đồ số 05, đo đạc năm 2000, diện tích 174m², ở xóm G, thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội (nay là thửa đất số 37, tờ bản đồ số 23, đo đạc năm 2010, diện tích 230,8m²). Cụ thể: Cạnh phía Đông dài: 12m, giáp thửa đất ông Trần Văn Đ; cạnh phía Tây dài: 12m, giáp đất công đường trục huyện; cạnh phía Nam dài: 06m, giáp xóm làng; cạnh phía Bắc dài: 06m, giáp thửa đất ông Nguyễn Văn S được giới hạn bởi các điểm 4, 5,5',12',13',13,4 (có sơ đồ kèm theo).

    • - Buộc ông Nguyễn Văn Ư phải trả lại cho ông Trần Văn Đ 38.7m² đất và phải tháo dỡ, di dời toàn bộ lán tạm và các tài sản trên diện tích 38.7m² đất, nằm trong thửa đất số 279, tờ bản đồ số 05, đo đạc năm 2000, diện tích 174m², ở xóm G, thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội (nay là thửa đất số 37, tờ bản đồ số 23, đo đạc năm 2010, diện tích 230,8m²) được giới hạn bởi các điểm 4, 5, 12, 13, 4 (có sơ đồ kèm theo).

    • - Buộc ông Nguyễn Văn S phải trả lại cho ông Trần Văn Đ 33.3m² đất và phải tháo dỡ, di dời: Bước tường xây (dài 0.82m, cao 02m, được giới hạn bởi các điểm 13, 13'); 01 cây sấu đã bị chặt ngọn, 01 cây sung đã bị chặt ngang cây, 01 cây mít, 01 chuồng gà đã bị đổ nát trên diện tích 33.3m² đất, nằm trong thửa đất số 279, tờ bản đồ số 05, đo đạc năm 2000, diện tích 174m², ở xóm G, thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội (nay là thửa đất số 37, tờ bản đồ số 23, đo đạc năm 2010, diện tích 230,8m²) được giới hạn bởi các điểm 5, 5', 12',13',13,12,5 (có sơ đồ kèm theo).

    Ông Đ có trách nhiệm đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án.

    Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm.

Ông S và ông Ư là bị đơn, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 124/2024/DS-ST ngày 11/7/2024 của TAND huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, theo yêu cầu của bị đơn, cấp phúc thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định lại diện tích đất đang tranh chấp. Kết quả:

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/01/2025. Xác định:

“Tại diện tích đất 360m² đất cụ H bán cho ông Đ, hiện nay ông Đ đã chuyển nhượng lại cho ông S 240m² (nay ông S đã chuyển lại cho ông U quản lý sử dụng), vị trí cụ thể được thể hiện trong Sơ đồ đo đạc kèm theo Biên bản này. Việc chuyển nhượng giữa ông S với ông Đ và ông S giao cho ông Ư quản lý các bên không tranh chấp, và đã có mốc giới.

Hướng từ phía trong ra đường, tiếp theo phần đất ông S là phần đất của ông Đ còn lại với diện tích 120m², rồi tiếp đến là diện tích đất đang tranh chấp”.

“Theo trình bày của ông U, ông Đ và ông S cùng thống nhất: Diện tích 360m² ông Đ mua của cụ H là tiếp giáp với diện tích đang tranh chấp 72m² hắt vào bên trong là đất của ông S (240m² đã chuyển nhượng không tranh chấp), Tiếp giáp phần đất 72m² đanh tranh chấp hắt ra đường phía gia đình ông Đ cho rằng là đất lưu không đường giao thông; phía ông U, ông S cho rằng diện tích đất này là đất của xã hội, hiện tại không biết ai quản lý”

Tại biên bản làm việc hồi 10 giờ 46 phút ngày 16/01/2025. UBND xã A cung cấp: “Căn cứ các tài liệu lưu tại xã và số mục kê qua các thời kỳ, có căn cứ cho rằng diện tích ban đầu ông H bán cho ông Đ 360m² trở ra phía đường là đã hết phần đất của cụ H. Từ mép ngoài của diện tích đất cụ H bán cho ông Đ trở ra đường là diện tích đất thùng đào, thùng đầu thuộc đất công. Đến năm 1992 UBND xã A và HTX N2 đã bán cho ông Đ diện tích 72m², có tứ cận cụ thể là: Phía Đông dài 12m, giáp: Đính (đất anh Đ); phía Tây dài 12m, giáp: Đường trục huyện; phía Nam dài 06m, giáp: Xóm làng; phía Bắc dải 06m, giáp: Anh S; được thể hiện tại Biên bản giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 và phiếu thu tiền ngày 23/9/1992.

Như vậy có căn cứ xác định diện tích đất ông Đ đang đòi lại đúng là diện tích ông Đ đã được mua của xã theo Biên bản giao đất nêu trên. Lý do trong Biên bản giao đất nêu trên có ghi "gia đình phải xây dựng hệ thống tiêu nước, phía tường hậu không được tiêu nước và mở cửa" là vì khi đó đã sử dụng Mẫu biên bản giao đất ở khu vực tại Chợ K, chứ không sử dụng cho diện tích đất này. Cụm từ này không liên quan đến vị trí đất đã bán cho ông Đ năm 1992.Diện tích đất 72m² giao cho anh Đ theo Biên bản giao đất năm 1992 chưa có Quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Phần đất tiếp giáp từ mép diện tích đất đang tranh chấp ra đến ngoài đường, tỉnh lộ 419 là diện tích đất công, thuộc phạm vi quản lý của UBND xã A quản lý.”

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông S; ông S và ông Ư thống nhất trình bày tranh luận:

Diện tích 72m² đất mà hiện ông Đ đòi lại đối với ông S, ông Ư vẫn là của bố mẹ bị đơn để lại, ngoài phạm vi “một sào bắc bộ” mà cụ H bán cho ông Đ; không phải là diện tích đất mà ông Đ được giao theo Biên bản bàn giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 và phiếu thu tiền ngày 23/9/1992. Bởi lẽ theo Biên bản bàn giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 thì: Diện tích ông Đ mua của UBND xã có cụm từ “ Cách đường 5 m”. Theo đo đạc thì mép ngoài phía tây của diện tích ông Đ đang đòi lại này cách đường hơn 10 m. Như vậy thửa đất ông Đ được giao phải nằm ngoài diện tích hiện nay đang tranh chấp, cách đường 5 m và nằm trong diện tích đất công; Diện tích đất đang tranh chấp mà ông Ư đã xây nhà kho bị ông Đ đòi lại không nằm trong diện tích cụ H đã bán cho ông Đ nên vẫn thuộc của gia đình ông S, ông Ư. Đề nghị Hội đồng xét xử Hủy bản án dân sự sơ thẩm vì ông Đ khởi kiện đòi lại không đúng diện tích đất được giao theo Biên bản bàn giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 và phiếu thu tiền ngày 23/9/1992.

Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Đ; ông Đ; bà N (bà N đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Đ thống nhất trình bày tranh luận:

Xác định diện tích 72m² hiện bị ông S, ông Ư chiếm giữ là đúng diện tích đất mà ông Đ được giao theo Biên bản bàn giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 và phiếu thu tiền ngày 23/9/1992. Cấp sơ thẩm buộc ông S và ông Ư phải tháo dỡ, di dời tài sản trên đất trả lại cho ông Đ là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của ông S, ông Đ.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa không gửi văn bản trình bày quan điểm ý kiến với Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết toàn bộ vụ án.

Kiểm sát viên VKSND Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Sau khi đánh giá phân tích về nội dung vụ án theo Bản phát biểu được lưu trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Ư, ông S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng

    • - Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

    • - Người kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

    • - Các đương sự gồm UBND xã A và Hợp tác xã N2 có đơn xin xét xử vắng mặt, UBND huyện M, Thành phố Hà Nội được Hội đồng xét xử tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2. Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt họ là đúng quy định Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

    Việc Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông S; ông Ư; ông S và người đại diện theo ủy quyền của ông S đề nghị triệu tập những người làm chứng. Tuy nhiên Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ giải quyết vụ án nên không chấp nhận.

  2. Về Nội dung:

    1. Những nội dung các đương sự thừa nhận và không kháng cáo.

      Cụ H (bố đẻ ông U, ông S) chuyển nhượng một sào đất (được xác định là 360m²) cho ông Đ theo Văn bản nhượng lại đất thổ cư ngày 04/3/1990; Việc ông Đ chuyển nhượng lại cho ông S 240m² trong một sào đất mà ông Đ đã nhận chuyển nhượng của cụ H; ông S đã chuyển lại diện tích này cho ông Ư quản lý sử dụng. Diện tích của ông Đ nhận chuyển nhượng của cụ H còn lại là 120 m². Nay các bên không tranh chấp và không đề nghị xem xét. Nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

    2. Xét kháng cáo của ông U, ông S. Hội đồng xét xử thấy:

      Ngày 20/9/1992, ông Đ được UBND xã A kết hợp với Hợp tác xã nông nghiệp kinh doanh tổng hợp giao 72m² đất ao theo Biên bản giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 và phiếu thu tiền ngày 23/9/1992.

      Mặc dù ông Ư, ông S cho rằng diện tích đất 72m² đất mà ông Đ được giao không phải diện tích mà ông S đổ đất làm ngõ đi và ông U xây dựng nhà kho. Tuy nhiên:

      Các đương sự đều thừa nhận 72m² đất này không nằm trong diện tích “một sào bắc bộ” mà cụ H bán cho ông Đ. Diện tích ông Đ nhận chuyển nhượng của cụ H đúng là diện tích 240m² hiện ông Ư đang quản lý và là 120 m² còn lại của ông Đ hiện nay. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Ư, ông S đều khẳng định: Diện tích 120m² còn lại trong diện tích mà ông Đ đã nhận chuyển nhượng của cụ H có cạnh phía tây (hướng ra đường trục huyện) là tiếp giáp với diện tích đất mà ông S đổ đất, làm chuồng chăn nuôi; ông U xây dụng nhà tạm bị ông Đ đòi lại. Tại Biên bản giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 ghi cụm từ “Lưu không cách đường là 5m” chứ không ghi thửa đất ông Đ được giao “Cách đường 5m” như bị đơn trình bày. Cạnh phía đông của diện tích 72m² đất ông Đ được giao đã xác định: “Phía Đông dài: 12m, giáp: Đính (đất anh Đ)”. Như vậy không có khoảng cách giữa diện tích đất ông Đ được giao với diện tích đất 120m² còn lại trong diện tích mà ông Đ đã nhận chuyển nhượng của cụ H.

      Tại Bản tự khai ngày 04/5/2021 (BL số 40, 41) do ông S tự viết đã xác định “ Tháng 10/1992.....Vợ chồng tôi có ao... khi lên nộp tiền thì UBND xã có bảo anh Đ có mua một phần ao... Anh Đ mua chiều dài 12m theo đường trục 419 chiều rộng ao 6m.... Sau đó năm 1992 sang năm 1993 tôi và anh Đ có xin UBND xã .. xin mua ít đất đổ vào ao (giáp bờ ao).....”.

      Tại Biên bản hòa giải ngày 07/7/2022 (BL 88).

      Ông Ư trình bày: “Cái ao trước đây là đất của bố mẹ tôi. Khi làm đường 419 có lưu không, diện tích 72 m² của anh Đ nêu trên là thuộc đất lưu không”.

      Ông S trình bày: “Năm 2004 tôi làm ngõ, có chiều rộng x 12m chiều dài, xin 1m đất ao làm dãy chảy mương máng và không ai có ý kiến gì, không kiện cáo gì. Ngõ đi là do tôi làm, không liên quan gì đến diện tích 72m² của ông Đ. Năm 2007 cả xóm dồn tất cả nước vào ao đó gây ô nhiễm, tôi có xin lấp đất, xây rãnh chảy để tránh ô nhiễm. Đến năm 2018 tôi xây bờ rào, tôi có lên nói chuyện với ông Đ để thả mấy con gà. Nếu có gì tranh chấp tôi sẽ trả ông Đ, cái ao do tôi bỏ tiền đổ đất lấp đất nên nếu ông Đ lấy lại phần đất của mình tại phần ao thì tôi sẽ trả và ông Đ phải hỗ trợ cho tôi một khoản tiền mà tôi đã lấp”.

      Ông Ư không có bất kỳ tài liệu, chứng cứ chứng minh diện tích 72m² đất đang tranh chấp này là của ông U hoặc của bố, mẹ đẻ ông Ư.

      Tại các văn bản của Hợp tác xã N2 và UBND xã A do cấp sơ thẩm thu thập và biên bản làm việc ngày 16/01/2025. UBND xã A đều xác định: “...diện tích đất ông Đ đang đòi lại đúng là diện tích ông Đ đã được mua của xã theo Biên bản giao đất nêu trên. Lý do trong Biên bản giao đất nêu trên có ghi "gia đình phải xây dựng hệ thống tiêu nước, phía tường hậu không được tiêu nước và mở cửa" là vì khi đó đã sử dụng Mẫu biên bản giao đất ở khu vực tại Chợ K, chứ không sử dụng cho diện tích đất này. Cụm từ này không liên quan đến vị trí đất đã bán cho ông Đ năm 1992.

      Diện tích đất 72m² giao cho anh Đ theo Biên bản giao đất năm 1992 chưa có Quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

      Phần đất tiếp giáp từ mép diện tích đất đang tranh chấp ra đến ngoài đường, tỉnh lộ 419 là diện tích đất công, thuộc phạm vi quản lý của UBND xã A quản lý.”

      Theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đã được giao không đúng thẩm quyền “....Trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền đã được sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất đã được giao theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 của Nghị Định này....”.

      Xác định ông Đ đã được cấp 72m² đất theo Biên bản giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ buộc ông S và ông Ư phải tháo dỡ và di chuyển toàn bộ các tài sản trên đất trả lại 72m² đất cho ông Đ là đúng quy định tại các Điều 166, 169, 188, 221, 223 Bộ luật dân sự năm 2015. Nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông S, ông Ư.

      Tuy nhiên: Do UBND xã A kết hợp với Hợp tác xã nông nghiệp kinh doanh tổng hợp giao 72m² đất ao cho ông Đ theo Biên bản giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 chưa đúng thẩm quyền. Nên cấp sơ thẩm tuyên “Ông Trần Văn Đ có trách nhiệm đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án” là chưa đúng và chưa đầy đủ. Về nội dung này cần được sửa lại: Ông Trần Văn Đ có trách nhiệm đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 72m² đã được giao theo Biên bản giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 và phiếu thu tiền ngày 23/9/1992. Nhưng phải chấp hành và thực hiện các Quyết định của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

  3. Về án phí:

    • - Giữ nguyên quyết định của cấp sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm;

    • - Do sửa bản án dân sự sơ thẩm nên ông Ư, ông S không phải chịu án phí phúc thẩm.

    Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và có căn cứ pháp luật

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 147, 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

  • - Các Điều:158, 163, 164, 166, 169, 188, 221, 223 Bộ luật dân sự năm 2015;

  • - Điều 100 Luật đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;

  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 2 Luật người cao tuổi.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn Ư. Sửa cách tuyên tại bản án dân sự sơ thẩm số 124/2024/DS-ST ngày 11/7/2024 của TAND huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Cụ thể như sau:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đ đối với ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn Ư.

    1. Xác định ông Trần Văn Đ có quyền sử dụng 72m² đất đã được giao theo Biên bản giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 và phiếu thu tiền ngày 23/9/1992, thuộc thửa đất số 279, tờ bản đồ số 05, đo đạc năm 2000, diện tích 174m² có các cạnh giáp ranh: Cạnh phía Đông dài: 12m giáp thửa đất ông Trần Văn Đ; cạnh phía Tây dài: 12m, giáp đất công đường trục huyện; cạnh phía Nam dài: 06m, giáp đường xóm làng; cạnh phía Bắc dài: 06m, giáp thửa đất ông Nguyễn Văn S được giới hạn bởi các điểm 4, 5,5',12',13',13,4 trong sơ đồ kèm theo bản án. Tại địa chỉ: Xóm G, thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội.

    2. Buộc ông Nguyễn Văn Ư và ông Nguyễn Văn S phải tháo dỡ các tài sản gắn liền trên diện tích đất (đoạn tường bao, khu chăn nuôi, nhà lợp mái tôn, cây cối) và trả lại cho ông Trần Văn Đ diện tích 72 m² đất được xác định thuộc quyền sử dụng của ông Trần Văn Đ tại điểm 1.1. khoản 1 Quyết định của bản án.

  2. Ông Trần Văn Đ có quyền, nghĩa vụ đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai, thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 72m² đã được giao theo Biên bản giao đất kinh doanh dịch vụ ngày 20/9/1992 và phiếu thu tiền ngày 23/9/1992. Nhưng phải chấp hành và thực hiện các Quyết định của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

  3. Về án phí:

    1. Ông Trần Văn Đ không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

    2. Ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Văn Ư được miễn án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

    3. Hoàn trả ông Nguyễn Văn Ư 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007990 ngày 22/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử phúc thẩm công khai có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS ND TP Hà Nội;
  • - TAND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi Cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - Lưu HSVA/VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐỖ MINH HOÀNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2025/DS – PT ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về đòi tài sản

  • Số bản án: 132/2025/DS – PT
  • Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Trần Văn Đ Bị đơn: Nguyễn Văn Ư
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger