Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 132/2024/HSST

Ngày 12/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh; Bà Hoàng Thị Luyến.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa:

Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 12/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 136/2024/TLST-HS ngày 25/8/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HS ngày 30/8/2024 đối với bị cáo: Họ và tên: LÒ VĂN T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/02/1994, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản Mé, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Lò Văn P (không xác định được năm sinh, đã chết) và bà Lò Thị H, sinh năm 1954; Gia đình bị cáo có 10 anh, chị, em; bị cáo là con thứ mười; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/4/2024, tạm giam từ ngày 10/4/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay (có mặt).

Người làm chứng:

  1. Hồng Công H1, sinh năm 1976.
  2. Lường Văn B, sinh năm 1994.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 28/3/2024, Lò Văn T đến bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu chơi và ở tại đó. Đến sáng ngày 01/4/2024, tại bản Noong Thăng, T gặp và nhờ một người phụ nữ dân tộc Mông (không rõ lai lịch) mua hộ 02 gói Heroine với số tiền 600.000 đồng (trong đó có 01 gói được gói bằng nilon màu hồng và 01 gói được gói bằng nilon màu xanh). Sau khi mua được H2, T lấy một ít trong gói Heroine màu xanh ra sử dụng bằng hình thức tiêm chích. Số H2 còn lại ở gói màu xanh, T đổ chung vào trong gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng thành cho 01 gói rồi cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc, mục đích: để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán. Đến khoảng 12 giờ ngày 01/4/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, L gặp Hồng Công H1 (sinh năm 1976; cư trú tại khu F, thị trấn T, huyện T) và Lường Văn B (sinh năm 1994; cư trú tại bản C, xã M, huyện T). B và H1 hỏi mua Heroine của T, B đưa cho T số tiền 90.000 đồng, H1 đưa cho T 100.000 đồng. T nhận tổng số tiền 190.000 đồng rồi lấy gói Heroine trong túi quần của mình ra, bẻ lấy một ít Heroine, gói lại bằng mảnh nilon màu xanh đưa cho B và bảo B cùng H1 tự chia nhau.

Mua được Heroine của Lò Văn T, Lường Văn B và Hồng Công H1 mang đến bản Mé, xã M, huyện T, lấy gói Heroine ra sử dụng. Khi vừa sử dụng xong thì B và H1 bị lực lượng Công an xã M phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hồi 13 giờ 00 phút cùng ngày, thu giữ 01 bật lửa ga và 01 mảnh giấy bạc đã than hoá. Trên cơ sở lời khai của Lường Văn B và Hồng Công H1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn T, thu giữ trong túi quần bên trái của T đang mặc 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu hồng) và số tiền 190.000 đồng do T bán H2 cho B và H1 mà có.

Kết luận giám định số 19 ngày 01/4/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện T và các bản Kết luận giám định số 394, 396 cùng ngày 06/4/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T gửi giám định có khối lượng 0,28 gam; là ma túy, loại: Heroine. Số tiền 190.000 đồng thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là tiền thật”.

Vật chứng: 01 gói Heroine thu giữ của Lò Văn T, đã trích 0,15 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật). Các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản theo quy định.

Quá trình điều, tra truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của hai người làm chứng Hồng Công H1, Lường Văn B, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251/Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt Lò Văn T mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu 0,13 gam Heroine còn lại của Lò Văn T; 01 mảnh giấy bạc đã than hoá, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 bật lửa đã qua sử dụng của Lường Văn B, Hồng Công H1 và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu để tiêu hủy. Tịch thu số tiền 190.000 đồng tiền bán trái phép chất ma tuý của bị cáo T để sung vào ngân sách Nhà nước.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Sau khi mua được H2, đến khoảng 12 giờ ngày 01/4/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, Lò Văn T đã cùng một lúc bán trái phép 01 gói Heroine cho 02 người là Lường Văn B và Hồng Công H1 lấy tổng số tiền 190.000 đồng. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn T, Cơ quan điều tra thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,28 gam và số tiền 190.000 đồng do T bán Heroine mà có. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251/Bộ luật hình sự.

[3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi bị cáo Lò Văn T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Ma tuý đang là nỗi nhức nhối trong đời sống xã hội, và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó mọi hành vi phạm tội liên quan tới ma tuý cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4]. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Lò Văn T là đối tượng nghiện chất ma túy, việc mua trái phép chất ma tuý ngoài mục đích để sử dụng cho bản thân, bị cáo còn bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma tuý khác để thu lời.

[5]. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Lò Văn T được sinh ra trong gia đình lao động, mặc dù có tuổi đời còn trẻ nhưng không tu dưỡng, rèn luyện, chịu khó làm ăn mà lại ăn chơi, đua đòi và bị nghiện chất ma túy. Để có ma túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân và bán cho các đối tượng nghiện chất ma tuý khác, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo, cai nghiện trở thành người có ích.

Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo. Bị cáo có cha đẻ là ông Lò Văn P được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251/Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng: Đối với 0,15 gam Heroine đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên HĐXX không xem xét, 0,13 gam Heroine còn lại của Lò Văn T là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 mảnh giấy bạc đã than hoá, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 bật lửa đã qua sử dụng của Lường Văn B, Hồng Công H1 và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy. Số tiền 190.000 đồng bị cáo có được do bán trái phép chất ma tuý mà có nên cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước.

[7]. Vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Lò Văn T khai mua từ một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.

Quá trình điều tra, Lò Văn T còn khai nhận: sau khi bán Heroine cho Lường Văn B và Hồng Công H1, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, bị cáo còn bán 01 gói Heroine cho một người đàn ông không rõ lai lịch lấy số tiền 100.000 đồng và T đã chi tiêu hết. Do bị cáo không biết nhân thân, lai lịch của người mà T đã bán Heroine này nên không có căn cứ để xác minh, làm rõ nên HĐXX không xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lường Văn B và Hồng Công H1, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

[8]. Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, tại phiên toà có đề nghị được miễn án phí, nên sẽ được miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[9]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  3. Về vật chứng: Tịch thu 0,13 gam Heroine còn lại của Lò Văn T; 01 mảnh giấy bạc đã than hoá, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 bật lửa đã qua sử dụng của Lường Văn B, Hồng Công H1 và 01 vỏ bì niêm phong vật chứng để tiêu hủy. Tịch thu số tiền 190.000 (một trăm chín mươi nghìn đồng) tiền bán trái phép chất ma tuý của bị cáo Lò Văn T để sung vào ngân sách Nhà nước
  4. Các vật chứng, đồ vật nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

  5. Về án phí: Bị cáo Lò Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp Lai Châu;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Nhà TG, Cơ quan THAHS, Cơ quan CSĐT Công an huyện T;
  • - Người tham gia tô tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Trung Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HSST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 132/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn T bán trái phép chất ma tuý cho nhiều người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger