|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2024/HS-ST Ngày 27-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đào Vi .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Tuấn Anh
Bà Nguyễn Thị Bích Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Bảo Tá - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số A đường T, phường P, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Bị cáo Hoàng Trung K, sinh ngày 10/3/2008 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...] cấp ngày 19/4/2022 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Số D Kiệt B C, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Hải V, sinh năm 1971 và con bà Trần Thị N, sinh năm 1973; gia đình có 03 chị em ruột, bị cáo là con út; vợ, con: chưa có; tiền án: Không;
- Bị cáo Lê Đức Việt H, sinh ngày: 09/12/2006 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...] cấp ngày 23/4/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Số C T, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Đức L (đã chết) và con bà Trần Thị T, sinh năm 1976; gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con đầu; vợ, con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không;
- Bị cáo Lê Vũ P, sinh ngày: 03/9/2009 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...] cấp tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: số A T, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Vũ P1, sinh năm 1984 và con bà Nguyễn Thị Thanh L1, sinh năm 1986; gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con đầu; vợ, con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự
Ngày 29/02/2024, bị Công an thành phố H xử phạt hành chính bằng hình thức “ Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Quá trình hoạt động bản thân: Từ nhỏ sinh ra và sống với bố mẹ tại số D Kiệt B C, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lớn lên đi học đến lớp 09/12 thì nghỉ học, làm nghề cắt tóc cho đến ngày gây án.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/04/2024, sau đó chuyển sang tạm giam từ ngày 15/04/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
Từ nhỏ sinh ra và sống với bố mẹ tại số C T, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lớn lên đi học đến lớp 10/12 thì nghỉ học.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/04/2024, sau đó chuyển sang tạm giam từ ngày 15/04/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
Từ nhỏ sinh ra và sống với bố mẹ tại số A T, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lớn lên đi học đến lớp 08/12 thì nghỉ học.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/04/2024, sau đó chuyển sang tạm giam từ ngày 15/04/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
- - Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Hoàng Trung K: Ông Hoàng Hải V, sinh năm 1971 và bà Trần Thị N, sinh năm 1973. Cùng địa chỉ: Số D Kiệt B C, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, cùng có mặt.
- - Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Đức Việt H: Bà Trần Thị T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số C T, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- - Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Vũ P: Ông Lê Vũ P1, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị Thanh L1, sinh năm 1966. Cùng địa chỉ: Số A T, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông P1 có mặt, bà L1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Trung K: Bà Nguyễn Thị Ngọc Á và bà Huỳnh Thị Ngọc T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, đều có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Lê Đức Việt H: Ông Trần Phước H1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Lê Vũ P: Ông Dương Tiến D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt.
- - Bị hại:
- + Anh Đinh Trường V1, sinh ngày 27/9/2009. Địa chỉ: Thôn M, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- + Anh Lê Nhật H2, sinh ngày 09/10/2007. Địa chỉ: Thôn P, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- + Anh Đinh Hồng T2, sinh ngày 21/9/2008. Địa chỉ: Thôn P, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị Ái P2, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn H, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Anh Giảng Hán C, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số A B, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- + Bà Hồng Kiến M1, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số C C, G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Số điện thoại: 0799.306.xxx. Vắng mặt.
- + Anh Hồng Quốc H3, sinh năm 2009. Địa chỉ: Số B Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại Đinh Trường V1: Bà Trần Thị Kim A, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn M, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Đinh Trường V1: Bà Trần Thị Hồng M – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại Lê Nhật H2: Bà Tôn Nữ Hoàng O, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn P, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại Đinh Hồng T2: Anh Đinh Hồng L2, sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn P, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Đinh Hồng T2: Ông Hồ Ngọc L3 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, có luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại gửi Hội đồng xét xử xem xét.
Người đại diện theo pháp luật của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồng Quốc H3: Bà Hồng Kiến M1, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số C C, G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong tháng 02 năm 2024 và tháng 4 năm 2024, Hoàng Trung K đã thực hiện 02 vụ cướp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1:
Khoảng 08h00 ngày 17/02/2024, Hoàng Trung K dùng ứng dụng xã hội "Facebook Messenger" tên "Hồng Gấm" nhắn tin vào Facebook tên "Chengang của anh G Hán Chấn (sinh ngày: 27/5/1990, trú tại: số A B, phường P, thành phố H) để mượn xe máy, tuy nhiên không thấy anh C trả lời nên K đến quán bán chim cảnh của anh C tại số A N, phường P, thành phố H; thấy quán đóng cửa, trước quán có dựng xe mô tô biển kiểm soát 75K1 - 474.66 của anh C. K đi vào quán cà phê "Q" ở kiệt A N, thấy anh C với Đinh Trường V1 (sinh ngày: 27/9/2009, trú tại: M, P, thành phố H) đang ngồi uống cà phê. K nói anh C cho mượn xe mô tô, anh C lãng tránh không trả lời. Một lúc sau, anh C đưa chùm chìa khóa cho V1 để về mở cửa quán bán chim cảnh. K đi theo V1, còn C ngồi uống cà phê. V1 mở cửa quán đưa các lồng chim ra ngoài phơi nắng, K đi theo phía sau nói V1 đưa chìa khóa xe mô tô biển kiểm soát 75K1 - 474.66, V1 không đưa mà nói hỏi mượn anh C, nếu anh C đồng ý thì V1 đưa chìa khóa xe mô tô của anh C cho K. K bực tức do V1 không đưa chìa khóa, nên đã nảy sinh ý định đánh V1 để lấy chìa khóa. K vào trong quán của C lấy 01 (một) cái búa (đầu búa bằng kim loại, cán búa bằng nhựa màu xanh) đến đứng sau lưng V1, K cầm búa bằng hai tay đánh mạnh liên tiếp 03 cái vào vùng vai và lưng của V1, vừa đánh K vừa nói: "Mi đưa không? Đưa, bây lì há". Bị đánh vào người thì V1 không chống cự lại được nên đưa chìa khóa xe mô tô biển kiểm soát 75K1-474.66 cho K. Khoa cẩm chìa khóa xe ra mở ổ khóa khởi động xe mô tô biển kiểm soát 75K1 - 474.66 rồi tẩu thoát. V1 nói cho anh C biết việc bị K dùng búa đánh lấy chìa khóa và chạy xe mô tô biển kiểm soát 75K1 - 474.66, anh C nhắn tin vào Facebook Messenger tên "Hồng Gấm" với nội dung K đem xe về anh hay không, nhưng K không trả lời nên anh C cùng V1 đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H.
Đến chiều ngày 18/02/2024, K đưa xe biển kiểm soát 75K1474.66 cho ông Hoàng Hải V (cha của K) đến giao nộp tại Cơ quan Công an.
* Tang vật thu giữ:
- + Ông Hoàng Hải V (cha của K) giao nộp xe mô tô nhãn hiệu VARIO, màu trắng đen, biển số 75K1 - 474.66, kèm theo chìa khóa xe mô tô,
- + Cháu Đinh Trường V1 giao nộp 01 (một) cái búa đóng đinh, đầu búa bằng kim loại, cán búa bằng nhựa màu xám- xanh.
* Kết quả giám định:
- Tại kết luận định giá tài sản số: 1416/KL-HĐGĐTS ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H đã kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu VARIO, màu trắng đen, biển số 75K1 -474.66 tại thời điểm ngày 17/02/2024 có giá trị thành tiền là 24.500.000 đồng.
- Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 235-24/KLTTCT-GĐPY ngày 13/5/2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh T, kết luận:
- Các kết quả chính: Kết quả khám giám định: Chạm thương phần mềm vùng lưng không phát hiện dấu vết thương tích, không ảnh hưởng đến chức năng: 0%.
- Kết luận:
- Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Trường V1 tại thời điểm giám định là: 0% (không phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Vật gây, cơ chế hình thành, thời gian hình thành thương tích: Vùng lưng không phát hiện dấu vết, không có cơ sở xác định vật gây, chiều hướng và thời gian hình thành.
Kết luận khác: Thương tích được ghi nhận tại vùng lưng hiện không phát hiện dấu vết, không ảnh hưởng chức năng, không ảnh hưởng đến tính mạng và không có khả năng gây tử vong cho Đinh Trường V1.
Vụ thứ 2:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 05/04/2024, K gặp Lê Vũ P và Lê Đức Việt H tại công viên T, phường G, thành phố H. Sau đó, K cùng P và H đến công viên T, thành phố H gặp Hồng Quốc H3, K mượn xe mô tô biển kiểm soát 59N2 - 467.00 của H3 để chở P và Việt H đi chơi, H đồng ý. K chở P và Việt H đến công viên Trịnh Công S ngồi chơi. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, K nảy sinh ý định đi cướp tài sản nên nói với P và Việt H: "tối nay có đi kiếm tiền không?", Việt H và P hỏi: "kiếm tiền như thế nào?", K nói: "đi lên khu vực xã B gặp phụ nữ thì chặn lại dọa để lấy tiền", Việt H và P đồng ý.
Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59N2 - 467.00 chở P và Việt H đi đến địa phận xã H, thành phố H, thấy tại lề đường có nhiều võ chai bia Huda thì K dừng xe và nói: "hai đứa bây lấy võ chai để đề phòng cướp được nếu họ đuổi theo thì ném võ chai xuống đường để họ không đuổi theo nữa" đồng thời mở cốp xe mô tô lấy 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu vàng cất dấu vào trong người, còn Việt H và P xuống lấy mỗi người 01 (một) võ chai bia cất dấu. K điều khiển xe mô tô chở Việt H và P đến đoạn đường Q thuộc thôn V, xã B, thị xã H thấy phía trước cùng chiều có cháu Đinh Hồng T2 (sinh ngày: 21/9/2008, trú tại: P, B, H, Thừa Thiên Huế) đi xe đạp chở theo phía sau là cháu Lê Nhật H2 (sinh ngày: 09/10/2007, trú tại: P, B, H, Thừa Thiên H4), đoạn đường vắng người qua lại. K ép xe mô tô vào bên tay trái của T2 rồi vượt lên dùng xe mô tô chặn trước đầu xe đạp của T2. K xuống xe, còn Việt H và P vẫn ngồi trên yên xe mô tô. K đứng bên tay trái của H2 (H2 đã xuống xe) rồi cầm cây kéo sắt dí vào bên trái cổ của H2 và nói: "có tiền thì đưa tiền cho tau", H2 không phản ứng mà đưa 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen cho K. Tiếp đó, K cầm cây kéo sắt dí vào bên sườn trái của T2 (T2 vẫn đứng giữ xe đạp) và hỏi: "còn tiền không?", T2 nói: "không có", K lục soát trong người T2 nhưng không có tài sản. K nói P điều khiển xe chở Việt H với K về lại hướng thành phố H. Đi được khoảng 500 mét, K không mở được điện thoại do điện thoại có cài mặt khẩu nên nói P quay xe chạy đuổi theo H2. P chở Việt H và K quay lại chạy vượt lên cùng chiều với T2 và H2, K hỏi mật khẩu của điện thoại, H2 nói: "4 con số 5 (5555)", K mở được điện thoại thì nói P quay lại đi về. Đi được một đoạn, K nói P dừng xe để K điều khiển, P dừng xe thì cùng Việt H vứt bỏ 02 (hai) võ chai bia xuống đường. K chạy đến đoạn đường Q thuộc, xã B (gần cầu treo) thì thấy phía trước cùng chiều có chị Nguyễn Thị Ái P2 (sinh năm: 1990, trú tại: H, B, H, TT H) đang điều khiển xe mô tô một mình. K điều khiển xe đi theo phía sau, đến đoạn đường vắng thì K tăng ga chạy vượt lên bên tay trái của chị P2, chị P2 phát hiện thì la lên to tiếng rồi tăng ga vượt xe lên trên đồng thời rẻ sang bên trái đường đi vào hướng quán sửa xe máy, K sợ người dân xung quanh ra vây bắt nên điều khiển xe mô tô bỏ chạy thẳng về thành phố H. Đến đường T, thành phố H thì P với Việt H xuống xe đi về. K đến trả lại xe mô tô cho H rồi nhờ H chở đến phòng trọ tại số nhà B Đ, thành phố H.
Sáng ngày 06/4/2024, cháu Lê Nhật H2 đã trình báo việc bị cướp tài sản cho Cơ quan Công an. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã bắt giữ Hoàng Trung K, Lê Vũ P và Lê Đức Việt H. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, K cùng P và H đã khai nhận hành vi, đồng thời K đã giao nộp 01 (một) máy điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen.
Qua điều tra, xác định được 01 mô tô nhãn hiệu Wave, màu tím, biển số 59N2 - 467.00 là của bà Hồng Kiến M1, sinh năm 1988, địa chỉ: Số B Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế là mẹ của anh Hồng Quốc H3. Cả bà M1 và anh Hồng Quốc H3 là người cho K mượn xe mô tô, K đã dùng xe mô tô chở đồng phạm thực hiện hành vi cướp tài sản đều không biết việc K dùng xe mô tô chở đồng phạm thực hiện hành vi cướp tài sản. Cho nên, H3 không có dấu hiệu đồng phạm trong vụ án.
* Tang vật thu giữ: Hoàng Trung K giao nộp điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen, Hồng Quốc H3 giao nộp xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu tím, biển số 59N2 - 467.00 và một cây kéo bằng sắt màu vàng.
* Kết quả giám định:
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐGĐTS ngày 07/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã H, đã kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen tại thời điểm ngày 05/4/2024 có giá trị thành tiền là 2.000.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương sức khỏe cơ thể số: 293- 24/KLTTCT-GĐPY ngày 10/6/2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh T, kết luận:
- Các kết quả chính:
- Kết luận:
- Kết quả khám giám định: Vết biến đổi sắc tố da vùng ngực phải cạnh ức: 0,5%.
- Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Hồng T2 tại thời điểm giám định là 1% (Một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Vật gây, cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương nông vực ngực phải do vật có cạnh sắc tác động kiểu sượt qua.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 294-24/KLTTCT-GĐPY ngày 10/6/2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh T, kết luận:
- Các kết quả chính:
- Kết luận:
- Kết quả khám giám định: Tổn thương sau cổ đã lành, không để lại dấu vết, không ảnh hưởng chức năng: 0%.
Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Nhật H2 tại thời điểm giám định là: 0% (không phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Vật gây, cơ chế hình thành thương tích: Dựa vào tài liệu và bản ảnh điều tra cung cấp có thể nhận định vật gây là vật có cạnh sắc tác động kiểu sượt qua.
* Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định xử lý vật chứng: Trả lại xe mô tô nhãn hiệu VARIO, màu trắng đen, biển kiểm soát: 75K1 - 474.66, kèm theo chìa khóa xe mô tô được trả lại cho chủ sở hữu, anh Giảng Hán C không yêu cầu gì thêm.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ra Quyết định xử vật chứng: Trả lại điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đen được trả lại cho chủ sở hữu, cháu Lê Nhật H2 và người đại diện hợp pháp không có yêu cầu gì thêm.
*Vật chứng đang tạm giữ:
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu tím, số máy: JA39E2000596, số khung: RLHJ3923LY000636, xe có gắn biển số: 59N2 - 467.00. Xe đã qua sử dụng, không xác định chất lượng.
- - 01 (một) cây kéo màu vàng (Đã được niêm phong).
- - 02 (hai) võ chai bia thủy tinh có nhãn hiệu "Huda".
- - 01 (một) cái búa đóng đinh có đầu búa bằng kim loại, cán búa bằng nhựa màu xám- xanh, dài khoảng 30cm (Đã được niêm phong).
* Phần trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Hoàng Trung K, Lê Đức Việt H, Lê Vũ P đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Lê Nhật H2 số tiền 1.500.000 đồng. Bị hại anh Lê Nhật H2 đã nhận đủ số tiền 1.500.000 đồng và có đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKSTTH-P1 ngày 27/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố các bị cáo Hoàng Trung K, bị cáo Lê Đức Việt H và bị cáo Lê Vũ P về tội: “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên quan điểm luận tội theo cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo Hoàng Trung K, bị cáo Lê Đức Việt H và bị cáo Lê Vũ P và đề nghị Hội đồng xét xử:
*Về trách nhiệm hình sự:
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, i, o khoản 1 Điều 52, Điều 90, Điều 91, khoản 2 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hoàng Trung K. Xử phạt bị cáo Hoàng Trung K từ 06 (sáu) năm tù đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 07/04/2024.
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Đức Việt H. Xử phạt bị cáo Lê Đức Việt H từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 07/04/2024.
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 90, Điều 91, khoản 2 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Vũ P. Xử phạt bị cáo Lê Vũ P từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 07/04/2024.
* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; tuyên xử:
- - Trả lại cho bà Hồng Kiến M1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu tím, số máy: JA39E2000596, số khung: RLHJ3923LY000636, xe có gắn biển số: 59N2 - 467.00. Xe đã qua sử dụng, không xác định chất lượng.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) cây kéo màu vàng (Đã được niêm phong).
- + 02 (hai) võ chai bia thủy tinh có nhãn hiệu "Huda".
- + 01 (một) cái búa đóng đinh có đầu búa bằng kim loại, cán búa bằng nhựa màu xám- xanh, dài khoảng 30cm (Đã được niêm phong).
(Các vật chứng nói trên có đặc điểm theo Biên bản giao,nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Hoàng Trung K, bị cáo Lê Đức Việt H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Lê Vũ P không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
- - Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Hoàng Trung K – bà Huỳnh Thị Ngọc T1: Đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Hoàng Trung K về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tại thời điểm phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức chưa đầy đủ về pháp luật. Lần thứ nhất khi phạm tội bị cáo chưa đủ 16 tuổi, là trẻ em. Bị cáo đã tác động với gia đình bồi thường cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo một hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Trung K – bà Nguyễn Thị Ngọc Á thống nhất với ý kiến bào chữa cho bị cáo Hoàng Trung K của bà Huỳnh Thị Ngọc T1.
- - Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Lê Đức Việt H: Đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Lê Đức Việt H về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tại thời điểm phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức chưa đầy đủ về pháp luật và sự nguy hiểm của hành vi mà mình gây ra, xem xét về nhân thân của bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, xem xét thêm về hoàn cảnh gia đình, điều kiện sinh sống, thiếu sự quan tâm, quản lý của gia đình, bị cáo không chịu khó học tập tu dưỡng, rèn luyện bản thân, ăn chơi lêu lỏng dẫn đến việc phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo H bị rủ rê thực hiện hành vi phạm tội, không trực tiếp thực hiện các hành vi phạm tội mà chỉ đóng vai trò đồng phạm là người giúp sức. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 đồng thời áp dụng Điều 54, Điều 90, 91, khoản 1 Điều 101 và khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo mức án 03 năm tù.
- - Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Lê Vũ P: Đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Lê Vũ P về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tại thời điểm phạm tội, bị cáo chưa đủ 16 tuổi, là trẻ em, nhận thức chưa được đầy đủ và rõ ràng về pháp luật và sự nguy hiểm của hành vi mà mình gây ra, xem xét thêm về nhân thân của bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, xem xét thêm về hoàn cảnh gia đình, điều kiện sinh sống, thiếu sự quan tâm, quản lý của gia đình, bị cáo không chịu khó học tập tu dưỡng, rèn luyện bản thân, ăn chơi lêu lỏng dẫn đến việc phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo H bị rủ rê thực hiện hành vi phạm tội, không trực tiếp thực hiện các hành vi phạm tội mà chỉ đóng vai trò đồng phạm là người giúp sức. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Người bào chữa đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều 54, điều 90, Điều 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù.
- - Ý kiến của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Đinh Trường V1: Đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố các bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Tuy nhiên, các bị cáo tuổi đời còn trẻ, cũng chưa nhận thức được đầy đủ về pháp luật nên đề nghị Hội đồng đồng xét xử căn cứ vào các quy định pháp luật, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Đinh Hồng T2: Đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố các bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Tuy nhiên, các bị cáo tuổi đời còn trẻ, cũng chưa nhận thức được đầy đủ về pháp luật nên đề nghị Hội đồng đồng xét xử căn cứ vào các quy định pháp luật, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xử phạt các bị cáo một mức án phù với tính chất mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo. Người bị hại không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.
Trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo K, bị cáo H, bị cáo P xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, khẳng định các hành vi và quyết định tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 17 tháng 02 năm 2024, tại A N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, bị cáo Hoàng Trung K dùng hung khí (búa) đánh bị hại anh Đinh Trường V1 nhằm chiếm đoạt xe mô tô biển số 75K1- 474.66 có giá trị 24.500.000 đồng (Hai mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng).
Ngày 05 tháng 4 năm 2024, tại xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Hoàng Trung K, Lê Đức Việt H, Lê Vũ P sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 59N2 - 467.00 mượn của anh Hồng Quốc H3, ép sát xe đạp, dùng hung khí (cây kéo bằng sắt dài 12 cm) dí vào cổ của cháu Lê Nhật H2 lấy điện thoại di động Iphone 7 plus có giá trị 2.000.000 đồng và dí vào bên sườn trái của T2, lục soát trong người T2 nhưng không có tài sản. Ngoài ra, Hoàng Trung K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59N2 - 467.00 mượn của anh Hồng Quốc H3 chở Lê Đức Việt H, Lê Vũ P chạy đến đoạn đường Q thuộc, xã B (gần cầu treo) thì thấy phía trước cùng chiều có chị Nguyễn Thị Ái P2 đang điều khiển xe mô tô một mình thì K điều khiển xe đi theo phía sau, đến đoạn đường vắng thì K tăng ga chạy vượt lên bên tay trái của chị P2, chị P2 phát hiện thì la lên to tiếng rồi tăng ga vượt xe lên trên đồng thời rẻ sang bên trái đường đi vào hướng quán sửa xe máy, K sợ người dân xung quanh ra vây bắt nên điều khiển xe mô tô bỏ chạy thẳng về thành phố H. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Hoàng Trung K chiếm đoạt được là: 26.500.000 đồng. Giá trị tài sản mà Lê Đức Việt H và Lê Vũ P chiếm đoạt là 2.000.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo sử dụng búa, kéo, mô tô là hung khí, phương tiện, công cụ nguy hiểm, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc làm cho các bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự được để chiếm đoạt tài sản của họ. Với hành vi nêu trên, các bị cáo Hoàng Trung K, bị cáo Lê Đức Việt H và bị cáo Lê Vũ P đã phạm vào tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng số 63/CT-VKSTTH-P2 ngày 27/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Hoàng Trung K, bị cáo Lê Đức Việt H và bị cáo Lê Vũ P với tội danh như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Trung K, bị cáo Lê Đức Việt H và bị cáo Lê Vũ P, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của các bị cáo, nhất là bị cáo K mang tính nguy hiểm cao, không những xâm phạm đến tài sản của người khác mà con đe doạ đến sức khỏe và tính mạng của họ, ảnh hưởng ngiêm trọng đến tình hình trật tự và an toàn xã hội của nhiều địa phương khác nhau trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Hoàng Trung K, bị cáo Lê Đức Việt H và bị cáo Lê Vũ P đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện hành phạm tội.
Trong vụ án này, bị cáo K mặc dù đã bị xử phạt hành chính bằng hình thức “ Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Bị cáo liên tục thực hiện 02 lần phạm tội, là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê và hướng dẫn bị cáo H và bị cáo P thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm chính. Bị cáo H và bị cáo P tuy không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, nhưng đã đồng ý, hưởng ứng tham gia và cầm hung khí (vỏ chai bia) đã giúp sức cho K thực hiện hành vi phạm tội nên đã phạm vào tội “ Cướp tài sản” với vai trò là đồng phạm, người giúp sức.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hoàng Trung K, bị cáo Lê Đức Việt H và bị cáo Lê Vũ P:
Về nhân thân:
Bị cáo Hoàng Trung K có 01 tiền sự; bị cáo Lê Đức Việt H và bị cáo Lê Vũ P có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo Hoàng Trung K phạm tội hai lần trở lên; rủ rê, xúi giục bị cáo P và bị cáo H là người dưới 18 tuổi phạm tội, và thực hiện hành vi phạm tội đối với bị hại Đinh Trường V1 và bị hại Đinh Hồng T2 là người dưới 16 tuổi nên phạm vào tình tiết tăng nặng được quy định tại các điểm g, i, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo Lê Đức Việt H và bị cáo Lê Vũ P phạm vào tình tiết tăng nặng là phạm tội đối với bị hại bị hại Đinh Hồng T2 là người dưới 16 tuổi được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Các bị cáo Hoàng Trung K, bị cáo Lê Đức Việt H và bị cáo Lê Vũ P trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại Lê Nhật H2 và bị hại H2 cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
[5]. Về biện pháp chấp hành hình phạt:
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, thấy rằng các bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng có hành vi rất manh động, liều lĩnh coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tính răn đe, giáo dục. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét cho các bị cáo. Khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 17/02/2024, bị cáo Hoàng Trung K là người chưa đủ 16 tuổi (15 tuổi 11 tháng 08 ngày) nên cần căn cứ nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 90, Điều 92, khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo với mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định; khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 05/4/2024, bị cáo Hoàng Trung K là người chưa đủ 18 tuổi nhưng đã đủ 16 tuổi (16 tuổi 0 tháng 25 ngày) nên cần căn cứ nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 90, Điều 92, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo với mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.
Bị cáo Lê Đức Việt H là người chưa đủ 18 tuổi (17 tuổi 03 tháng 26 ngày) nên cần căn cứ nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 90, Điều 92, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo với mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.
Bị cáo Lê Vũ P là người chưa đủ 16 tuổi (14 tuổi 07 tháng 03 ngày) nên cần căn cứ vào nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 91, Điều 98, khoản 2 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo với mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.
Bị cáo H và bị cáo P có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho bị cáo H và bị cáo P như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tại phiên tòa.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Tất cả bị hại đã nhận lại tài sản và nhận bồi thường và không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý như sau:
- - Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu tím, số máy: JA39E2000596, số khung: RLHJ3923LY000636, xe có gắn biển số: 59N2 - 467.00. Xe đã qua sử dụng, không xác định chất lượng là xe mô tô của bà Hồng Kiến M1, bà M1 khai không biết con trai mình là anh Hồng Quốc H3 cho bị cáo K mượn xe mô tô, và không biết bị cáo K mượn xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu tím, số máy: JA39E2000596, số khung: RLHJ3923LY000636, xe có gắn biển số: 59N2 - 467.00. Xe đã qua sử dụng, không xác định chất lượng cho chủ sử dụng hợp pháp là bà Hồng Kiến M1.
- - Đối với 01 (một) cây kéo màu vàng (Đã được niêm phong) là của anh Hồng Quốc H3, tuy nhiên anh Hồng Quốc H3 không biết bị cáo K dùng cây kéo này để thực hiện hành vi phạm tội, và anh Hồng Quốc H3 cũng không yêu cầu nhận lại cây kéo này. Đây là công cụ bị cáo K dùng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 02 (hai) võ chai bia thủy tinh có nhãn hiệu "Huda", là công cụ các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) cái búa đóng đinh có đầu búa bằng kim loại, cán búa bằng nhựa màu xám- xanh, dài khoảng 30cm (Đã được niêm phong). Đây là tài sản của anh Giảng Hán C, anh C không biết việc bị cáo K dùng cái búa này để thực hiện hành vi phạm tội, và anh Giảng Hán C, cũng không yêu cầu nhận lại cây búa này. Đây là công cụ bị cáo K dùng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
(Các vật chứng nói trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế).
[8]. Về án phí: Buộc các bị cáo Hoàng Trung K, bị cáo Lê Đức Việt H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật nhưng do các bị cáo là người chưa thành niên nên người đại diện theo pháp luật của bị cáo K và bị cáo H phải nộp thay án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo K và bị cáo H. Bị cáo Lê Vũ P là trẻ em người dưới 16 tuổi nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Hoàng Trung K, bị cáo Lê Đức Việt H và bị cáo Lê Vũ P phạm tội “Cướp tài sản”.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tuyên xử:
- + 01 (một) cây kéo màu vàng (Đã được niêm phong).
- + 02 (hai) võ chai bia thủy tinh có nhãn hiệu "Huda".
- + 01 (một) cái búa đóng đinh có đầu búa bằng kim loại, cán búa bằng nhựa màu xám- xanh, dài khoảng 30cm (Đã được niêm phong).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Hoàng Trung K, bị cáo Lê Đức Việt H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nhưng người đại diện theo pháp luật của bị cáo K và bị cáo H phải nộp thay án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo K và bị cáo H; bị cáo Lê Vũ P không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện theo pháp luật của bị cáo, các bị hại, người đại diện theo pháp luật của các bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa, vụ liên quan đến vụ án, người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi nghĩa, vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, i, o khoản 1 Điều 52; Điều 90; Điều 91; khoản 1 và khoản 2 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hoàng Trung K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 07/04/2024.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lê Đức Việt H 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 07/04/2024.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 90, Điều 91, khoản 2 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lê Vũ P 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 07/04/2024.
Trả lại cho bà Hồng Kiến M1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu tím, số máy: JA39E2000596, số khung: RLHJ3923LY000636, xe có gắn biển số: 59N2 - 467.00. Xe đã qua sử dụng, không xác định chất lượng.
- Tịch thu tiêu hủy:
(Các vật chứng nói trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Thị Đào Vi |
Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về cướp tài sản
- Số bản án: 132/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Trung K và Đồng phạm phạm tội " Cướp tài sản"
