TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 132/2024/HS-ST Ngày 27 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Huyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trường;
Bà Nguyễn Thị Hoài Như.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Khắc Quân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2024/TLST-HS ngày 13/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024, đối với:
Nguyễn Đình T;
giới tính: Nam; sinh ngày: 18/3/1960 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố M, Phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C và bà Lâm Thị Q (đều đã chết); gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; có vợ là: Trương Thị V và có 02 người con, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1990.
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự. Cụ thể: Ngày 14/9/2023, bị Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng về hành vi “Buôn bán hàng cấm”.
Nhân thân: Ngày 18/6/2013, bị Công an huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 2.750.000 đồng về hành vi “Kinh doanh hàng hóa nhập lậu” và “Kinh doanh hàng cấm”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024 đến ngày 12/6/2024 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh T, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu phố 2, Phường 3, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 15 phút ngày 03/06/2024, Nguyễn Đình T điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 74D-005.02 (là tài sản của anh Huỳnh T, sinh năm 1970, trú tại khu phố H, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị) chở gà, vịt, heo từ thị xã Quảng Trị đến giao tại cổng chợ thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa. Sau khi giao hàng xong, vào lúc khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đến khu vực gần siêu thị Thiên Nhiên Kỷ (siêu thị đã dừng hoạt động) thuộc Khóm Tây Chín, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa cách bến xe thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa khoảng gần 1km nhằm mục đích tìm mua thuốc lá điếu nhãn JET, do nước ngoài sản xuất để mang về bán lại kiếm lời. Tại đây, T mua được 186 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu JET, do nước ngoài sản xuất (loại 10 bao đóng trong 01 cây, tổng cộng 1860 bao) từ một người đàn ông làm nghề xe thồ (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 20.800.000 đồng (112.000 đồng/cây). T có ý định mang thuốc lá mua được về thị xã Quảng Trị bán lại với giá 114.000 đồng/cây (lời 2.000 đồng/cây) cho những người có nhu cầu. Sau đó T cùng người đàn ông lái xe thồ đã sắp xếp số thuốc lá điếu trên vào 06 sọt nhựa cất giấu trên bề mặt sàn xe ô tô và dùng 03 sọt nhựa khác và lá cây chuối không còn nguyên vẹn che phủ lên trên nhằm che giấu hành vi phạm tội của mình. T đã thanh toán tiền mua thuốc lá điếu nhãn hiệu JET bằng hình thức trả tiền mặt cho người đàn ông lái xe thồ này. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang điều khiển xe ô tô 74D-005.02 vận chuyển số thuốc lá điếu nhãn hiệu JET lưu thông trên đường Điện Biên Phủ (thuộc khu phố Tân Vĩnh, phường Đông Lương, thành phố Đông Hà) thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Đông Hà phát hiện bắt quả tang và thu giữ số thuốc lá điếu trên.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 74D-005.02, số máy: 66291110166791, số khung: KPD66111853907981, nhãn hiệu: Mercedes-Benz, loại xe tải VAN (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).
- 1860 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET do nước ngoài sản xuất (sau giám định còn 1740 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET).
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 74000050 của xe ô tô mang biển kiểm soát 74D-005.02.
- 01 giấy chứng nhận kiểm định số DB2052711 của xe ô tô mang biển kiểm soát 74D-005.02
- 09 sọt nhựa có kích thước mỗi sọt là (57x36x34)cm, bao gồm (03 sọt nhựa màu đỏ, 04 sọt nhựa màu xanh, 01 sọt nhựa màu vàng, 01 sọt nhựa màu trắng).
* Kết luận giám định:
Tại kết luận giám định số 678/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 1860 bao thuốc lá ghi nhãn hiệu JET, đóng gói trong 186 hộp giấy màu trắng, ghi nhãn hiệu JET, được niêm phong trong 04 thùng giấy ghi ký hiệu từ A1 đến A4 gửi giám định đều là thuốc lá điểu thành phẩm (loại 20 điếu/bao), không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
Cáo trạng số 137/CT-VKSĐH ngày 12/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử,
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 120.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng về tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Về vật chứng thu giữ: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy các vật chứng: 1.740 bao thuốc lá điếu ghi nhãn hiệu JET được bỏ vào 12 thùng giấy các tông ký hiệu lần lượt từ 01 đến 12, bên ngoài có băng dán niêm phong có chữ ký, ghi tên của những người tham gia niêm phong; 09 sọt nhựa có kích thước mỗi sọt là (57x36x34)cm bao gôm (3 sọt nhựa màu đỏ, 04 sọt nhựa màu xanh, 01 sọt nhựa màu vàng, 01 sọt nhựa màu trắng).
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thấy rõ sai phạm của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo được chăm sóc người vợ đang ốm đau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:
Ngày 03/6/2024, bị cáo Nguyễn Đình T mua 1.860 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET do nước ngoài sản xuất của một người đàn ông lái xe thồ (không rõ lai lịch) với giá 20.800.000 đồng (tương đương với 11.200 đồng/bao) tại khu vực gần siêu thị Thiên Nhiên Kỷ (siêu thị đã dừng hoạt động) thuộc Khóm Tây Chín, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị rồi điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 74D-005.02 đưa về thị xã Quảng Trị, nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Tuy nhiên, khi T đang điều khiển xe ô tô vận chuyển số thuốc lá trên lưu thông trên đường Điện Biên Phủ (thuộc khu phố Tân Vĩnh, phường Đông Lương, thành phố Đông Hà) thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số thuốc lá điếu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 678/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 1860 bao thuốc lá ghi nhãn hiệu JET đều là thuốc lá điếu thành phẩm (loại 20 điếu/bao), không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Kinh doanh hàng cấm”, “Buôn bán hàng cấm” nhưng bị cáo vẫn cố ý tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo là lao động chủ yếu trong gia đình, vợ bị cáo thường xuyên ốm đau, việc bị cáo phạm tội cũng vì xuất phát từ việc muốn kiếm thêm thu nhập để trang trải cuộc sống gia đình, do đó cần xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để giảm một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
[4] Về áp dụng hình phạt: Xét thấy, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, hành vi phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nên cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, rèn luyện bản thân để sống có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 1.740 bao thuốc lá điếu ghi nhãn hiệu JET (hoàn lại sau giám định) được bỏ vào 12 thùng giấy các tông ký hiệu lần lượt từ 01 đến 12, bên ngoài có băng dán niêm phong có chữ ký, ghi tên của những người tham gia niêm phong, là hàng hoá cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 09 sọt nhựa có kích thước mỗi sọt là (57x36x34)cm (bao gồm: 03 sọt nhựa màu đỏ, 04 sọt nhựa màu xanh, 01 sọt nhựa màu vàng, 01 sọt nhựa màu trắng), là công cụ bị cáo dùng để đựng hàng cấm, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại các vật chứng đã thu giữ cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Huỳnh T, gồm: 01 xe ô tô biển kiểm soát 74D-005.02, nhãn hiệu: Mercedes-Benz, loại xe tải VAN; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 74000050 của xe ô tô mang biển kiểm soát 74D-005.02 và 01 giấy chứng nhận kiểm định số DB2052711 của xe ô tô mang biển kiểm soát 74D-005.02 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Huỳnh T. Xét thấy, việc trả lại các vật chứng trên là đúng quy định pháp luật; ông Huỳnh T không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[6] Về các vấn đề khác:
- Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông lái xe thồ đã bán 1.860 bao thuốc lá nhãn hiệu JET cho bị cáo nên không có cơ sở xử lý.
- Đối với ông Huỳnh T là chủ xe ô tô mang biển kiểm soát 74D-005.02, nhãn hiệu: Mercedes-Benz cho bị cáo mượn xe ô tô nói trên nhưng không biết bị cáo sử dụng xe ô tô để vận chuyển hàng cấm nên không có căn cứ để xử lý.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Do áp dụng phạt tiền nên cần huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng thu giữ:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu, tiêu hủy 1.740 bao thuốc lá điếu ghi nhãn hiệu JET được bỏ vào 04 thùng giấy có ký hiệu lần lượt từ TL01 đến TL04, bên ngoài hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và chữ của những người tham gia niêm phong và 09 sọt nhựa có kích thước mỗi sọt là (57x36x34)cm (bao gồm: 03 sọt nhựa màu đỏ, 04 sọt nhựa màu xanh, 01 sọt nhựa màu vàng, 01 sọt nhựa màu trắng), đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/9/2024, giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đông Hà và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội,
Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền, lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Huyến |
Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 132/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 120 triệu đồng
