Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 132/2024/HS-ST

Ngày: 12-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngôi Sao; bà Nguyễn Thị Kim Huế.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc (TP. Bảo Lộc), tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Trí H; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1995; tại: Tỉnh Lâm Đồng; nơi thường trú: Số A, đường T, phường B, Tp ., tỉnh Lâm Đồng; nơi ở hiện tại: Thôn F, xã Đ, Tp ., tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Ngô Lê H1, và bà: Nguyễn Thị Thu H2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, Tp ., tỉnh Lâm Đồng từ ngày 14/5/2024 cho đến nay, có mặt.

Bị hại: Lưu Đức B, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ A, phường L, TP ., Lâm Đồng;

Đại diện hợp pháp: Ông Lưu Đức Đ, sinh năm 1964 và bà Trần Thị H3, sinh năm 1976 (Là bố và mẹ của bị hại); cùng địa chỉ: Tổ A, phường L, TP ., Lâm Đồng, (Ông Đ có mặt, bà H3 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Trí H đã có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 08/11/2021. Khoảng 13 giờ ngày 13/12/2023, H điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu ForLand, biển kiểm soát 49H-026.70 trên xe chở theo 03-05 tấn đá chẻ lưu thông trên đường T hướng từ ngã 5 ĐamB’ri ra hồ ông D. Khi đến đoạn đường giao lộ ngã ba hồ ông D với đường T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng thì phát hiện anh Lưu Đức B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 49M2-5152 lưu thông theo hướng từ hồ ông D lên dốc ra đường T rồi chuyển hướng sang trái qua đường hướng về ngã 5 ĐamB’ri thì H đạp phanh và điều khiển xe sang bên trái đường để tránh nhưng không kịp, đầu xe ô tô của H đã va chạm vào phần hông bánh sau bên trái xe mô tô do anh B điều khiển làm anh B văng lên lề đường bên trái, rồi đẩy xe mô tô do anh B điều khiển về phía trước khoảng 10m thì dừng lại. Sau va chạm anh B nằm bất tỉnh trên đường và được đi cấp cứu, H cùng người dân kéo xe mô tô của anh B ra khỏi gầm xe ô tô của mình. Sau đó H điều khiển xe rời khỏi hiện trường, cất xe ở nhà và đi đến Bệnh viện I để gặp gia đình anh B thăm hỏi, hỗ trợ viện phí. Hậu quả anh Lưu Đức B bị thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 85% (Tám mươi lăm phần trăm).

Qúa trình khám nghiệm hiện trường xác định được như sau: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông thuộc đường T, xã Đ, thành phố B là đoạn đường bằng phẳng, giữa đường không có vạch sơn kẻ tim đường, mặt đường được trải nhựa bê tông rộng 4m (Bốn mét). Phần đường bên phải hiện trường theo hướng từ ngã 5 ĐamBri đi đường L là khu vực giao lộ giữa đường T và đường không tên, số, từ hướng hồ ông D ra đường T được trải nhựa bằng phẳng và dốc từ trên xuống dưới theo hướng đường T đi hồ ông D, đường không tên, số này rộng 3,90m (Ba phẩy chín mươi mét). Lấy hướng từ ngã 5 ĐamB’ri đi đường L làm hướng mô tả khám nghiệm; lấy trụ điện số 473/2/309/16 ở trong lề đường bên trái, phía sau hiện trường theo hướng mô tả làm mốc cố định; chọn mép trái đường T theo hướng khám nghiệm làm mép đường chuẩn, kết quả như sau:

  • - Số 01 là dấu vết cày xước bê tông và chà cao su màu đen trên mặt đường thứ nhất, vết này có dạng liền nét, chiều hướng theo hướng mô tả và cong từ trái qua phải theo hướng mô tả kéo dài đến vị trí vùng chất lỏng màu đen tại vị trí số 3, vết này dài 12,20m và rộng 0,35m; điểm đầu và điểm cuối vết này ngay mép đường chuẩn, điểm đầu cách mốc cố định là 18,50m.
  • - Số 02 là dấu vết cày xước bê tông và chà cao su màu đen trên mặt đường thứ hai, vết này chủ yếu là vết cày xước mặt đường và vết chà lốp mờ có dạng đứt đoạn, chiều hướng theo hướng mô tả, vết này ở trên lề đường trái theo hướng mô tả, dài 12,05m, rộng 0,11m; điểm đầu vết cày này cách mép đường chuẩn là 0,60m, điểm cuối vết này cách mép đường chuẩn là 0,40m; điểm đầu cách điểm đầu vết tại vị trí số 1 là 0,80m.
  • - Số 03 là vị trí vùng chất lỏng màu đen trên mặt đường, vùng chất lỏng này không rõ hình dạng, có màu đen, còn ầm ướt trên mặt đường có kích thước 0,80m x 0,50m; tâm vùng này cách mép đường chuẩn là 0,20m và cách điểm đầu vết tại vị trí số 2 là 11,70m.

Qúa trình thực nghiệm điều tra xác định được như sau:

  • - Số 01 là vị trí vết cày xước bê tông và chà cao su màu đen thứ nhất.
  • - Số 02 là vị trí vết cày xước bê tông và chà cao su màu đen thứ hai
  • - Số 03 là vị trí vùng chất lỏng màu đen.
  • - Số 04 là vị trí xe ô tô biển kiểm soát 49H-026.70 do Ngô Trí H điều khiển lưu thông trên đường T theo hướng ngã 5 ĐamB’ri đi đường L. Tại thời điểm phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 49M2-5152 do anh Lưu Đức B điều khiển đang lưu thông từ đường hẻm Tôn Thất T ra đường T. T1 đầu trục bánh trước bên trái của xe ô tô cách mép đường chuẩn là 0,3m, cách điểm đầu vị trí số 1 là 17,70m; tâm đầu trục bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn là 0,5m.
  • - Số 05 là vị trí H phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 49M2-5152 do anh Lưu Đức B điều khiển đang lưu thông từ đường hẻm Tôn Thất T ra đường T chuyển hướng về ngã 5 ĐamB’ri, cách mép đường chuẩn là 6,70m, cách tâm đầu trục bánh trước bên trái của xe ô tô tại vị trí số 4 là 22,90m.
  • - Số 06 là vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 49H-026.70 với xe mô tô biển kiểm soát 49M2-5152, cách vị trí số 5 là 8,20m, cách mép đường chuẩn là 0,15m.
  • - Số 07 là vị trí xe ô tô biển kiểm soát 49H-026.70 tại thời điểm xảy ra va chạm với xe mô tô; bánh trước và bánh sau bên trái xe ô tô nằm trên lề đường bên trái theo hướng mô tả; tâm đầu trục bánh trước bên trái cách mép đường chuẩn là 0,2m, cách vị trí số 6 là 1,4m; tâm đầu trục bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn là 0,2m.
  • - Số 08 là vị trí xe mô tô biển kiểm soát 49M2-5152 thời điểm xảy ra va chạm với xe ô tô; tâm đầu trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 0,6m, cách tâm đầu trục bánh trước bên trái của xe ô tô tại vị trí số 07 là 2,15m; tâm đầu trục bánh trước của xe mô tô cách mép đường chuẩn là 0,7m.
  • - Số 09 là vị trí xe mô tô biển kiểm soát 49M2-5152 sau khi xảy ra tai nạn; tâm đầu trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 1,30m, cách tâm đầu trục bánh trước của xe mô tô tại vị trí số 8 là 13,30m; tâm đầu trục bánh sau của xe mô tô ngay mép đường chuẩn.
  • - Số 10 là vị trí của xe ô tô biển kiểm soát 49H-026.70 sau khi xảy ra tai nạn; bánh trước và bánh sau bên trái của xe ô tô nằm trên lề đường bên trái theo hướng mô tả; tâm đầu trục bánh trước bên trái cách mép đường chuẩn là 0,35m, cách tâm đầu trục bánh trước của xe mô tô tại vị trí số 9 là 2,20m; tâm đầu trục bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn là 0,35m.
  • - Số 11 là vị trí anh Lưu Đức B nằm sau khi xảy ra tai nạn; cách mép đường chuẩn là 1,4m, cách tâm đầu trục bánh trước bên trái của xe ô tô tại vị trí số 10 là 1,1m.

Tại bản Kết luận giám định số 203/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận:

  • + Dấu vết va chạm: Dấu vết trượt bám dính chất màu đen tại mặt trước ốp cản trước xe ô tô tải biển kiểm soát 49H-026.70 phù hợp với dấu vết trượt, mài mòn tại tay dắt sau bên trái xe mô tô biển kiểm soát 49M2-5152.
  • + Tốc độ: Không đủ cơ sở kết luận tốc độ xe ô tô tải biển kiểm soát 49H-026.70 và xe mô tô biển kiểm soát 49M2-5152.
  • + Chiều hướng lưu thông: Không đủ cơ sở xác định chiều hướng lưu thông của xe ô tô tải biển kiểm soát 49H-026.70 và xe mô tô biển kiểm soát 49M2-5152 vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.
  • + Vùng va chạm: Không đủ cơ sở xác định vùng va chạm đầu tiên chiếu trên mặt đường giữa xe ô tô tải biển kiểm soát 49H-026.70 và xe mô tô biển kiểm soát 49M2-5152 vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.

Tại bản Kết luận giám định số 393/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L với nội dung:

  • + Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong file video clip gửi giám định.
  • + Diễn biến của vụ tai nạn giao thông xuất hiện trong file video clip gửi giám định có được phân tích trong bản Phụ lục số 393/PL-KTHS.
  • + Tại thời điểm xảy ra va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 49M2-5152 và xe ô tô tải biển kiểm soát 49H-026.70 đang lưu thông trên phần đường dành cho các phương tiện giao thông lưu thông theo hướng từ hồ ông D đi ngã 5 ĐamB’ri, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
  • + Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của hai phương tiện giao thông trước thời điểm xảy ra va chạm.
  • + Vùng va chạm đầu tiên chiếu trên mặt đường giữa hai phương tiện giao thông thuộc phần đường dành cho các phương tiện giao thông lưu thông theo hướng từ hồ ông D đi ngã 5 ĐamB’ri, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Khám nghiệm phương tiện kết quả:

  • + Đối với xe ô tô tải biển số 49H-026.70: Bề mặt cản trước của xe có vết móp kim loại theo chiều hướng từ trước ra sau, từ ngoài vào trong, trầy xước sơn, bám dính chất màu đen, kích thước 67cm x14cm, điểm cao nhất đến mặt đất là 82cm, điểm thấp nhất đến mặt đất là 68cm.
  • + Đối với xe mô tô biển số 49M2-5152: Cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước bung khỏi xe; tay lái bên phải xe có dấu vết mài mòn kim loại ở phần khung cong gập, phần tay nắm điều khiển bung khỏi vị trí ban đầu; mặt nạ xe phần bên phải có vết bể vỡ, mài mòn nhựa kích thước 12,5cm x 4,5cm; bề mặt dè chắn bùn bánh trước có vết trầy sơn, mài mòn nhựa; mặt phải bánh trước xe có vết chà miết cao su; ốp nhựa thân xe bên trái bị bể vỡ; phần khung xe bị cong từ trái qua phải; cần đạp số bị cong từ ngoài vào trong; gác để chân phía sau bên trái cong từ sau tới trước; phần nhựa ốp thân xe bên phải bị bể vỡ; cần đạp khởi động xe có vết trầy xước, mài mòn cao su; lốc máy phần bên phải xe có vết trầy xước, bể xước, bể vỡ, mài mòn kim loại; gác để chân phía trước bên phải xe cong từ ngoài vào trong, từ sau ra trước, đầu ngoài có vết trầy xước cao su; ốp nhựa thân xe bên phải, phía dưới yên xe có vết trầy xước mài mòn nhựa kích thước thước 43cm x 08cm; mặt bên phải tay nắm có vết trầy xước, mài mòn cao su, kích thước 11cm x 2,5cm.

Tại Kết luận giám định số 218/KL-KTHS ngày 06/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L với nội dung: Giấy phép lái xe số [...] đề ngày 08/11/2021 mang tên Ngô Trí H, sinh năm: 1995, nơi cư trú: Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng là có thật.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 151/KLTTCT-PYLÐ ngày 19/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L với nội dung: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lưu Đức B tại thời điểm giám định là 85% (Tám mươi lăm phần trăm).

Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT- Công an T4 đã thu giữ và trả lại: 01 xe mô tô biển kiểm soát 49M2-5152 cho ông Lưu Đức Đ là chủ sở hữu hợp pháp; 01 (một) xe ô tô tải biển số 49H-026.70; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 49 000564; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số EA 0554309 của xe ô tô tải biển số 49H-026.70 cấp ngày 12/7/2022 trả lại cho chủ sở hữu là Ngô Trí H.

Về trách nhiệm dân sự: Ngô Trí H đã bồi thường cho gia đình anh Lưu Đức B số tiền là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng). Đại diện gia đình anh Lưu Đức Đ đã có đơn bãi nại cho Ngô Trí H. Tại phiên tòa bị cáo H và đại diện pháp cho bị hại yêu cầu Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo Hoàng hàng tháng có nghĩa vụ hỗ trợ cho anh Lưu Đức B số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Đây là sự thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã nêu, không thắc mắc khiếu nại gì đối với nội dung bản cáo trạng.

Bản Cáo trạng số 116/CT-VKSBL ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Ngô Trí H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Ngô Trí H từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Phần dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại đối với khoản tiền hỗ trợ hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo H 01 Giấy phép lái xe số [...] đề ngày 08/11/2021 mang tên Ngô Trí H. Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ xác định tội: Ngô Trí H đã có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 13h ngày 13/12/2023, H điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu ForLand, biển kiểm soát 49H-026.70 lưu thông trên đường T hướng từ ngã 5 ĐamB’ri ra hồ ông D, khi đến giao lộ đồng cấp ngã ba hồ ông D với đường T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, mặc dù quan sát thấy xe mô tô biển số 49M2 - 5152 do anh Lưu Đức B điều khiển đi vào giao lộ để rẽ trái vào đường T nhưng Ngô Trí H không giảm tốc độ; không nhường đường cho xe mô tô đi từ bên phải đến và tránh xe không đúng định (tránh sang bên trái đường) dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả làm anh Lưu Đức B bị tổn thương cơ thể là 85% (Tám mươi lăm phần trăm). Đối chiếu lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ, kết quả khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự;

[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả làm anh Lưu Đức B bị thương tích nặng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo; bồi thường cho bị hại tổng số tiền 200.000.000 đồng, bị hại cũng có lỗi (Không có giấy phép lái xe) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Xét không cần cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú phối hợp với gia đình quản lý, giáo dục một thời gian là phù hợp,

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại và bị cáo tự nguyện thỏa thuận, hàng tháng bị cáo H có nghĩa vụ bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để chăm sóc và điều trị cho bị hại. Đây là thỏa thuận tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận. Theo khoản 1 Điều 593 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì: Trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi người đó chết, trừ trường hợp có thỏa thận khác.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe số [...] đề ngày 08/11/2021 mang tên Ngô Trí H cần trả lại cho bị cáo H.

[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Ngô Trí H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Ngô Trí H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án (Ngày 12/9/2024).

Giao bị cáo Ngô Trí H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, TP ., tỉnh Lâm Đồng quản lý, giáo dục trong thời gian thử thánh. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thi hành án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

2/ Phần dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 và Điều 593 Bộ luật dân sự buộc bị cáo H có nghĩa vụ bồi thường cho anh Lưu Đức B hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi anh B chết.

3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo H 01 Giấy phép lái xe số [...] đề ngày 08/11/2021 mang tên Ngô Trí H, (kèm theo hồ sơ vụ án).

4/ Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt bị có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • -VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở tư pháp;
  • -VKSND TP Bảo Lộc;
  • - Công an TP. Bảo Lộc;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A dân sự tp Bảo Lộc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Đình Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 132/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: XX
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger