Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 132/2024/HS-ST

Ngày: 6/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Nam Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phùng Ngọc Toàn

Ông Trần Đức Lưu

- Thư ký phiên toà: Bà Đồng Minh Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Đại diện VKSND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 6 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 07 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 07 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1987.

Nơi thường trú: 99A Giang Văn M, Đ, quận B, thành phố Hà Nội ; nơi ở trước khi bị bắt : Số E ngõ A Đ, Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T2 và bà Nguyễn Thị Bích V; Gia đình có 02 anh em,bị cáo là con cả; có vợ là Nguyễn Thị T – sinh năm 1986 (đã ly hôn) và có hai con, lớn sinh năm 2005 và nhỏ 2011.

Tiền sự: không; tiền án:

  • Tại Bản án số 310/2009/HSST ngày 19/6/2009, bị Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 50 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2012;
  • Tại Bản án số 133/2013/HSST ngày 24/4/2013, bị Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/11/2014.
  • Tại Bản án số 519/2013/HSPT- QĐ Ngày 22/7/2013,Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 404/2013/HSPT ngày 7/6/2013 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Tại Bản án số 23/2015/HSST ngày 27/5/2015, bị Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/10/2017.
  • Tại Bản án số 295/2018/HS-PT ngày 23/5/2018, bị Toà án nhân thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/3/2023.

Nhân thân: Tại Bản án số 610/HS-ST ngày 30/12/2003, bị Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt cho hai tội là: 18 tháng tù cho hưởng án treo, hạn thử thách 36 tháng.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/01/2024, bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024.Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

2. Đinh Văn N, sinh năm 1980.

Nơi thường trú: Tổ G phường B, quận L, thành phố Hà Nội ; nơi ở trước khi bị bắt: Số 10/266/36/6 N, tổ G phường B, quận L, thành phố Hà Nội ; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn S (đã chết) và bà Phạm Thị S1; Bị cáo là con một;

Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại Bản án số 31/2014/HSST ngày 08/5/2014, bị Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/12/2019.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/01/2024,bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 21/01/2024, huỷ bỏ Quyết định tạm giữ ngày 21/01/2024.

Ngày 31/5/2024 bị bắt tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/01/2024, tại khu vực vỉa hè trước cửa nhà máy nước chi nhánh B, thuộc khu vực phố N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội, cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) - Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang Nguyễn Ngọc T1 và Đinh Văn N có hành vi mua, bán trái phép chất ma túy, thu giữ dưới nền vỉa hè quán nước chỗ T1 và N đang ngồi cạnh nhau 01 túi nylon màu hồng kích thước khoảng (05x07)cm bên trong có chứa:

  • 02 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (03x05) cm và 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (01x1,5) cm chứa chất bột màu trắng.
  • 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (03x05) cm chứa các viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh.

Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của:

  • Nguyễn Ngọc T1: 01 xe máy Honda biển kiểm soát: 29B2-31169, 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 điện thoại màu ghi trên lưng có logo hình quả táo và 3.000.000 đồng.
  • Đinh Văn N: 01 xe máy Mio màu trắng, đỏ đen biển kiểm soát: 30L5-8968, 01 điện thoại di động N1 màu đen bạc, 01 điện thoại di động Oppo màu vàng đen, 01 ví giả da màu đen và 14.000.000 đồng.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Ngọc T1 tại số B ngách B Đ, phường Đ, quận B, Hà Nội, phát hiện thu giữ tại tủ quần áo trong phòng: 08 (tám) túi nylon đều chứa tinh thể màu trắng và 01 cân điện tử màu xám có ghi chữ Digital Scale.

Bản Kết luận giám định số 745/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K - C kết luận:

* Tang vật thu giữ quả tang của Nguyễn Ngọc T1 và Đinh Văn N: “01 túi ni lông màu hồng gồm:

  • Chất bột màu trắng bên trong 03 túi ni lông đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 14,981 gam.
  • 01 túi ni lông bên trong có:
    • Các viên nén màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 1,908 gam.
    • 01 viên nén màu xanh là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,098 gam. ”

* Tang vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Ngọc T1 gồm:

  • “- Tinh thể màu trắng bên trong 08 túi ni lông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 4,941 gam.
  • 01 cân điện tử màu xám có ghi chữ Digital Scale có dính ma túy loại Methamphetamine./."

Quá trình điều tra xác định: Khoảng ngày 10/01/2024, Nguyễn Ngọc T1 mua của một người (không rõ lai lịch, địa chỉ) trên ứng dụng Telegram: 04 chỉ Heroine, 20 viên hồng phiên và 5g Methamphetamine với giá 20.000.000 đồng, mục đích để bán lại kiếm lời. Người này chuyển qua ship đến cho T1. T1 đã nhận số ma túy trên nhưng chưa trả tiền. Trưa ngày 12/1/2024, Đinh Văn N sử dụng số điện thoại 0325.527.xxx gọi vào số điện thoại 0963.593.xxx của Nguyễn Ngọc T1 hỏi mua 04 chỉ Heroine và 20 viên hồng phiến, thoả thuận với giá là 13.000.000 đồng, hẹn địa điểm giao nhận ma tuý tại vỉa hè trước cửa nhà máy nước chi nhánh B, thuộc khu vực phố N, phường G, B, Hà Nội. T1 đồng ý rồi điều khiển xe máy xe máy Honda SH màu đỏ biển kiểm soát 29B2-311.69, mang ma túy đến điểm hẹn gặp N. Khi đến điểm hẹn, T1 thấy N đang ngồi uống nước tại khu vực quán nước vỉa hè trước cửa nhà máy nước chi nhánh B. T1 vào quán ngồi uống nước cùng N. Tại đây, T1 lấy túi ma tuý ở túi quần bên phải, đưa cho N. Khi N vừa nhận số ma tuý T1 đưa trên tay thì đúng lúc này, cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) Công an thành phố H tiến hành kiểm tra. Do bất ngờ, N làm rơi túi ma tuý vừa nhận được của T1 xuống nền vỉa hè chỗ T1 và N đang ngồi.

Đối với 4,491 gam Methamphetamine thu giữ tại số B ngách B Đ, phường Đ, quận B, Hà Nội, Nguyễn Ngọc T1 khai nhận T1 mua về để bán lại kiếm lời.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc T1 và Đinh Văn N khai nhận hành vi Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy phù hợp với nội dung nêu trên, phù hợp với vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Ngọc T1, do T1 và đối tượng thỏa thuận việc mua bán ma túy trên ứng dụng tin nhắn Telegram, hiện đoạn tin nhắn đã bị xóa, vì vậy, không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với chiếc xe máy Honda biển kiểm soát: 29B2 – 31169 thu giữ của T1, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, xác định chị Phạm Thị T3 (vợ cũ của T1; sinh năm: 1986; trú tại: I G, Đ, B, Hà Nội) là chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe cho chị T3. Chị T3 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.

Đối với chiếc xe máy Mio biển kiểm soát: 30L5 - 8968 thu giữ của N, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, xác định bà Phạm Thị S1 (mẹ của N; sinh năm: 1960; trú tại: tổ G phường B, L, Hà Nội) là chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe cho bà S1. Bà S1 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.

Với bội dung trên bản cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 4/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Tú về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm p, q khoản 2 Điều 251của Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Đinh Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm p, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T1, tuyên bố bị cáo T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 năm 06 tháng tù đến 10 năm 6 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Văn N, tuyên bố bị cáo N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 07 năm tù đến 08 năm tù.

Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 bao niêm phong bên trong có 14,981 gam ma tuý loại Heroine và 2,006 gam ma tuý loại Methamphetamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 bao niêm phong bên trong có 4,941 gam đều là ma tuý loại Methamphetamine và 01 cân điện tử màu xám có ghi chữ Digital có dính ma tuý loại Methamphetamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 ví giả da màu đen đã cũ.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong và 01 điện thoại di động N1 màu đen bạc đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền: 13.000.000 đồng.
  • Trả lại cho bị cáo T1: 01 điện thoại di động màu ghi trên lưng có logo hình quả táo đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên; và số tiền 3.000.000 đồng.
  • Trả lại cho bị cáo N: 01 điện thoại di động Oppo màu vàng đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; và số tiền 1.000.000 đồng.

Không áp dụng hình phạt tiền theo khoản 5 điều 249,251 Bộ luật hình sự.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/01/2024, tại khu vực vỉa hè trước cửa nhà máy nước chi nhánh B, thuộc khu vực phố N, phường G, quận B, thành phố Hà Nội, Nguyễn Ngọc T1 đã có hành vi bán trái phép cho Đinh Văn N 14,981 gam Heroine và 2,006 gam Methamphetamine, mục đích để kiếm lời thì bị bắt quả tang.

Ngoài ra khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Nguyễn Ngọc T1, Cơ quan cảnh sát còn thu giữ 4,491 gam Methamphetamine, T1 cất dấu mục đích để bán kiếm lời.

Tổng số ma túy T1 bán trái phép là 14,981 gam Heroine và 6,947 gam Methamphetamine.

Đinh Văn N đã có hành vi mua trái phép 14,981 gam Heroine và 2,006 gam Methamphetamine với giá 13.000.000 đồng nhưng chưa thanh toán tiền cho T1, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa.

Tại Bản án số 295/2018/HS-PT ngày 23/5/2018, bị cáo Nguyễn Ngọc T1 bị Toà án nhân thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án này ngày 20/3/2023. Như vậy bị cáo đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Ngọc T1 có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm p, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; hành vi nêu trên của bị cáo Đinh Văn N có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma tuý. Mặt khác hành vi phạm tội của các bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo Nguyễn Ngọc T1, Đinh Văn N khi phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 là người có nhiều tiền án về các tội phạm liên quan đến ma tuý: Tại Bản án số 310/2009/HSST ngày 19/6/2009, bị cáo bị Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 50 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bản án số 133/2013/HSST ngày 24/4/2013, bị Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bản án số 519/2013/HSPT- QĐ Ngày 22/7/2013,Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 404/2013/HSPT ngày 7/6/2013 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” ;Bản án số 23/2015/HSST ngày 27/5/2015, bị Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bản án số 10/2018/HSST ngày 13/3/2018, bị Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;Bản án số 295/2018/HS-PT ngày 23/5/2018, bị Toà án nhân thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra bị cáo còn là người có nhân thân xấu: tại bản án số 610/HS-ST ngày 30/12/2003, bị cáo bị Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt cho hai tội là: 18 tháng tù cho hưởng án treo. Bị cáo không lấy đây làm bài học để rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện bị cáo là người rất coi thường pháp luật vì vậy cần phải được xử lý nghiêm minh. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố và tại phiên bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ các quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Đinh Văn N cũng là người có nhân thân xấu: Tại Bản án số 31/2014/HSST ngày 08/5/2014, bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ các quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Đối với vật chứng:

  • Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 bao niêm phong, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành vì vậy cần áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma này.
  • Đối với 01 điện thoại Nokia màu đen thu giữ của bị cáo T1 và 01 điện thoại di động Nokia màu đen bạc thu giữ của bị cáo N, đây là hai chiếc điện thoại các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý, vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hai chiếc điện thoại này.
  • 01 điện thoại màu ghi trên lưng có logo hình quả táo và số tiền 3.000.000 đồng thu giữ của bị cáo T1; 01 điện thoại di động Oppo màu vàng đen thu giữ của bị cáo N, đây là tài sản riêng của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại các tài sản này cho các bị cáo.
  • 01 cân điện tử màu xám có ghi chữ Digital Scale thu giữ của bị cáo T1 và 01 ví giả da màu đen thu giữ của bị cáo N không còn giá trị sử dụng vì vậy khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu huỷ 01 cân điện tử và 01 ví da này.
  • Số tiền 14.000.000 đồng thu giữ của N, trong đó có 13.000.000 đồng N chưa thanh toán tiền mua ma tuý cho T1 vì vậy căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu số tiền 13.000.000 đồng này nộp ngân sách nhà nước. Còn số tiền 1.000.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại cho bị cáo số tiền này.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T1 theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm p, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T1.

Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Văn N.

Căn cứ khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy"

Bị cáo Đinh Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 09 năm 06 tháng (Chín năm,sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 12/01/2024.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn N 07 (Bẩy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 31/5/2024, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 21/01/2024.

- Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 bao niêm phong bên trong có 14,981 gam ma tuý loại Heroine và 2,006 gam ma tuý loại Methamphetamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 bao niêm phong bên trong có 4,941 gam đều là ma tuý loại Methamphetamine và 01 cân điện tử màu xám có ghi chữ Digital có dính ma tuý loại Methamphetamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng; 01 ví giả da màu đen đã cũ.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong và 01 điện thoại di động N1 màu đen bạc đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • Trả lại cho bị cáo T1: 01 điện thoại di động màu ghi trên lưng có logo hình quả táo đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong và 3.000.000 đồng.
  • Trả lại cho bị cáo N: 01 điện thoại di động Oppo màu vàng đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong và 1.000.000 đồng.
  • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền: 13.000.000 đồng.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 175/THA ngày 18/07/2024 giữa Công an quận B với Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản số:1054955 ngày 18/07/2024 Ngân hàng TMCP C1.

Bị cáo Nguyễn Ngọc T1, Đinh Văn N, mỗi bị áo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Trại tạm giam số I – Công an TP Hà Nội.
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Nam Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự (mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 132/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Bị cáo Đinh Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger