TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 132/2024/HS-PT Ngày: 20/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Các Thẩm phán: Ông Bùi Trọng Danh
Ông Trần Minh Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 109/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Hồ Thanh T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2024/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Bị cáo kháng cáo:
Hồ Thanh T (T cụt); Sinh ngày 15/11/1993 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: Số1025 đường N, phường H, quận L, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: LĐPT; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; Con ông Hồ T1 và bà Nguyễn Thị Thanh V (đều còn sống); Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân:
Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2018/HSST ngày 02/4/2018, của Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 18(mười tám) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. (Chấp hành xong hình phạt ngày 30/01/2019);
Quyết định khởi tố bị can số 221, ngày 31/8/2023, của Công an quận S, khởi tố bị cáo Hồ Thanh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
Lưu Khánh L (Lu); Giới tính: Nam; Sinh ngày 04/4/1990 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: K đường Đ, phường T, quận H, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Hán; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam, Con ông Lưu Diễm H và bà Đỗ Thị Thu T2 (đều còn sống); Có vợ là Nguyễn Ngọc Thúy U và hai con, (con lớn nhất sinh năm 2020, con nhỏ nhất sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân:
Ngày 31/5/2007 bị Toà án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng;
Ngày 23/7/2008, của Toà án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xử phạt 12(mười hai) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù của Bản án số 42/2007/HSST ngày 31/5/2007, của Toà án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 18 tháng tù.
Ngày 17/9/2008, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xử phạt 12(mười hai) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 18 (mười tám) tháng tù của Bản án số 64/2008/HSST ngày 23/7/2008, của Toà án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 30 (ba mươi) tháng tù.
Ngày 16/12/2014 bị Toà án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng xử phạt 14(mười bốn) tháng tù về tội "Bắt giữ người trái pháp luật”;
Ngày 25/02/2016 bị Toà án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xử phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và "Cố ý làm hư hỏng tài sản";
Ngày 11/10/2021 bị Công an thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính về Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức phạt tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng);
Quyết định khởi tố bị can số 221, ngày 31/8/2023, của Công an quận S, khởi tố bị can Lưu Khánh L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuỷ" theo khoản 2 Điều 255 BLHS.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 24/8/2023, Phạm Minh N đang hát karaoke cùng với Hồ Thanh T và một số người bạn tại quán karaoke "AE” số 179 đường P, phường A, quận S, TP Đà Nẵng thì N nói với T là chị Nguyễn Thị Kim C bị Nguyễn Duy N1 là nhân viên quán "Xuyên Đêm" số 174 đường C, phường H, quận H, TP Đà Nẵng đánh trước đó và thách đố N đến, nên N nói T đi tìm N1 để trả thù thì T đồng ý, N điện thoại cho Nguyễn Nhật T3 hành nghề lái xe ô tô G nói đến quán Karaoke "AE" chờ N về nhà tắm, T3 đến và điều khiển xe ô tô biển số: 43A-545.22 chở N, T và một nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân lại lịch) về trước kiệt D đường T, phường H, quận H, TP Đà Nẵng thì dừng xe chờ N vào nhà tắm. Lúc này, Lưu Khánh L điện thoại hỏi N đang ở đâu, N kể việc chị C bị N1 đánh, chuẩn bị qua quán 'Xuyên Đ" để tìm N1 giải quyết mâu thuẫn. L nói N chở L qua đi cùng, L điều khiển xe ôtô biển số 43A-482.37 chở Huỳnh Ngọc N2, Trần Ngọc T4 và 01 (một) nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân lai lịch) đến nhà N.
N lấy 01(một) khẩu súng ngắn, kiểu súng rulo, bên trong súng có 03 (ba) viên đạn giấu trong lưng quần phía trước bụng của mình và 01(một) cây dao tự tạo dài khoảng 60 cm để trong túi xách đem ra xe ô tô đưa cho T giữ và nói qua quán "Xuyên Đêm" tìm N1 giải quyết mâu thuẫn, khi xe của L đến N nói chạy qua quán "Xuyên Đêm". Đến khoảng 21h00 cùng ngày, khi đến quán "Xuyên Đêm", N nói mọi người ngồi trên xe để N xuống tìm N1. N đi bộ đến trước quán thấy N1 thì rút khẩu súng ra cầm trên tay chỉ về phía N1 và chửi bới làm N1 hoảng sợ bỏ chạy vào trong quán. Lúc này, T3 thấy ồn ào nên mở cửa bước xuống xe đứng xem, T và người thanh niên còn lại ngồi trên xe, 04 người trên xe của L ngồi trên xe. Thấy N1 bỏ chạy vào trong quán thì N lên xe ô tô, T3 điều khiển xe rẽ trái tại ngã tư đường N - đường C để quay sang chiều đường ngược lại, đến đối diện trước quán "Xuyên Đêm" ở phía bên kia đường, xe của L đi theo sau. Lúc này, N1 từ trong quán chạy ra ra cầm theo 02(hai) vỏ chai bia bằng thủy tỉnh ném về phía xe Nghĩa 01(một) vỏ chai thủy tinh, nhưng không trúng, thì N nói T3 dừng xe lại, N xuống xe cầm súng trên tay trái bắn một phát đạn lên trời làm nhân viên và khách của quán "Xuyên Đêm" hoảng sợ bỏ chạy, N1 hoảng sợ bỏ chạy lên tầng 02 (hai) của quán để trốn. T cầm cây dao tự tạo xông vào quán nhưng không thấy N1 nên quay ra, N và T lên xe và tất cả quay về lại quán K, còn T3 về trước. Trên đường đi N đã vứt con dao dọc đường không nhớ rõ vị trí cụ thể nên không thu hồi được, N đem cây súng về nhà cất giấu. Ngày 27/8/2023, N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đầu thú và giao nộp khẩu súng trên.
Với nội dung trên: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hồ Thanh T, Lưu Khánh L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Xử phạt: Bị cáo Hồ Thanh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử phạt: Bị cáo Lưu Khánh L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về hình phạt đối với bị cáo Phạm Minh N (nhưng bị cáo này không có kháng cáo, không bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm); Về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 15/4/2024 bị cáo Hồ Thanh T, Lưu Khánh L có đơn kháng cáo với nội dung: Xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Hồ Thanh T và Lưu Khánh L giữ nguyên đơn kháng cáo, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, để có ngắn thời gian học tập, cải tạo tốt sớm về đoàn tụ với gia đình .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên đảm bảo hợp lệ.
Về nội dung: Xét Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2024/HS-ST ngày 12/4/2024 của TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo T, L và đồng phạm về tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung (dùng vũ khí, hung khí..) theo điểm b khoản 2 Điều 318 là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm khi tham gia và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình cũng như về nhân thân của từng từng bị cáo qua đó xử phạt bị cáo Hồ Thanh T 03 (ba) năm tù và bị cáo Lưu Khánh L 02 (hai) năm tù và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung là là cần thiết, phù hợp với quy định của pháp luật, không nghiêm khắc. Tại phiên tòa cấp phúc thẩm, các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới; Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của bị cáo và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Hồ Thanh T, Lưu Khánh L khai nhận: Khoảng 21 giờ 00 ngày 24/8/2023 các bị cùng với Phạm Minh N đến tại quán “Xuyên Đêm” số A đường C, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng với mục đích giải quyết mâu thuẩn giữa chị Nguyễn Thị Kim C với Nguyễn Duy N1 trước đó, khi đến quán “Xuyên Đ” Phạm Minh N có dùng súng đe dọa Nguyễn Duy N1 và bắn một phát lên trời, đồng thời bị cáo T dùng dao tự tạo (mang theo) xông vào trong quán “Xuyên Đ” tìm N1, còn bị cáo L với vai trò hổ trợ, giúp sứ cho N làm phá vỡ tình trạng ổn định có tổ chức, kỷ luật tại quán “Xuyên Đêm” là nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, các bị cáo thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2024/HS-ST ngày 12/4/2024 của TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo và đồng phạm về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo tình tiết định khung (dùng vũ khí, hung khí...)quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tuy nhiên, các bị cáo cho rằng về mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo là quá nghiêm khắc, nên xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, để cải tọa tốt, sớm về với gia đình.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng rất đến tình hình trật tự tại địa phương, vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đối với bị cáo và đồng phạm nhằm mục đích răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết.
[2.1] Xét khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã đáng giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo tham gia trong vụ án, đồng thời cũng xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và về nhân thân của từngbị cáo, qua đó xử phạt bị cáo T 03 (ba) năm tù và bị cáo L 02(hai) năm tù cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội để cải tạo, giáo dục, răn đe các bị cáo là phù hợp.
[3] Tại phiên tòa cấp húc thẩm, các bị cáo kháng cáo, nhưng không có tình tiết giảm nhẹ, nào mới; Do đó, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm, như đề nghị của đại diện VKS nhân dân thành phố Đ tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Về rút kinh nghiêm trong việc áp dụng pháp luật khi quyết định hình phạt: Đây là vụ án có đồng phạm khi tham gia thực hiện hành vi, Tòa án cấp sơ thẩm có nhận xét đánh giá vai trò đồng phạm của từng bị cáo, tuy nhiên, khi quyết định hình phạt không áp dụng Điều 58 BLHS là có thiếu sót, Tòa án cấp phúc thẩm bổ sung điều luật này cho phù hợp, Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Do không được chấp nhận kháng cáo, nên các bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I.Căn cứ:
Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1.1. Không chấp nhận kháng cáo
của các bị cáo Hồ Thanh T và Lưu Khánh L, giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sơ thẩm.
1.2. Căn cứ:
Điểm b Khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
1.2.1. Xử phạt:
Bị cáo Hồ Thanh T 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.
1.2.2. Xử phạt:
Bị cáo Lưu Khánh L 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.
II.Về án phí:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hồ Thanh T và bị cáo Lưu Khánh L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
III.Các quyết định khác
của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
IV. Bản án phúc thẩm
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Vĩnh Chuyển |
Bản án số 132/2024/HS-PT ngày 20/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 132/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không cháp nhận kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xử phạt: Bị cáo Hồ Thanh T 03 (ba) năm tù và Lưu Khánh L 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”
